Họ nói gì về mình, về cõi riêng của mình?

03/06/202200:00:00(Xem: 3869)
Nguyễn Thị Khánh Minh giới thiệu bốn nhà thơ nữ: Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh & Vũ Quỳnh Hương
  
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới.
 
Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
 
 

ĐINH THỊ NHƯ THÚY

 
nhu thuy

 

Người đàn bà không giấc ngủ

 

Người đàn bà trong tôi có giấc ngủ muộn phiền
bị cắt ra bởi ngàn lời đay nghiến
Đêm vẫn bình thản trôi
Đêm cuối cùng mùa hạ
Người đàn bà trong tôi
Có cái nhìn dửng dưng của đôi mắt đá
Ngày cứ bình thản qua
Chuỗi ngọc quí nằm sâu đáy nước

 

Mỗi ban mai

Những ám ảnh của giấc mơ đêm đè nặng

Như chiếc đòn gánh trên vai thiếu phụ

chân đất đầu trần

Gánh đậu hủ qua cầu Bạch Hổ ban trưa

Hai tà áo gió cuốn về hai phía

 

Tôi cố dỗ dành người đàn bà

Bằng lời ca của hòn cuội trắng 

Bằng những bông hoa dại ven đường                       

Bằng vũ điệu của bầy cá loi choi

búng lên từ mặt hồ sương sớm

Rằng yên rằng quên rằng nguôi

Dẫu giấc ngủ sẽ thôi không về nữa

Mỗi ban mai vẫn vàng rực mặt trời


Và, trở về tĩnh lặng

 

Anh lại choán đầy tâm trí em
Như giòng suối mùa mưa bị choán đầy bởi thác ngàn lũ núi
Ơi anh
Mặt trời hoang dã đến nao lòng

Hãy lãng quên và cho em những ngày quên lãng
Em cần tĩnh lặng
Để thu xếp những ý nghĩ ngổn ngang
Như người đi xa trở về
thu xếp đồ đạc trong căn nhà bừa bộn

Em ngắm nhìn những chùm quả xám nặng đung đưa
Và nhớ về màu hoa tím cũ
Và mái tóc em đang ngày một ngắn lại
Vì không đủ sức đợi chờ
Và cả vị trí khuất lấp ấy trong cuộc đời
Dường như cũng không có thực
Và anh

Dẫu đang ở rất gần
Hãy lãng quên và cho em những ngày quên lãng
Em xin sự tĩnh lặng này
Để lẩn vào góc tối
Đắm mình trong nỗi sợ những ngày xa

 

Đinh Thị Như Thúy

 

*

 

PHẠM THỊ NGỌC LIÊN

 
ngoc lien

 

Đến đường hoa mười giờ lúc mười giờ


Run rẩy giữa mênh mông xanh rồi chết lặng

tan như hạt bụi nhỏ nhoi

phía sau là thành phố

 

Chợt nhớ đêm qua giấc mơ thổn thức nặng trĩu

chợt nhớ đuôi mắt nhăn nhiều hơn khi cười

chợt nhớ anh đã lâu không gặp

em đi tìm hoa như tìm một hạnh phúc bé xíu

để tựa vào

 

Giữa mênh mông xanh như tâm hồn người đàn bà đang yêu

bàn chân trần thảnh thơi rón rén

em hồng hào rồi đỏ thắm rồi vàng mơ rồi tím biếc

như hoa mười giờ rực rỡ nở hàng triệu đôi môi thoa son

vào lúc nắng trên cao tít tắp

hoa nở như thể tận hiến tình yêu tận hiến cuộc sống

dẫu có thể ngày mai mưa

 

Gặp hoa như gặp anh sau nhiều ngày xa vắng

trái tim một chút xôn xao một chút ngậm ngùi

anh biết không

vì sao hoa mười giờ chỉ nở lúc mười giờ

vì sao em đỏ thắm ngay cả lúc thiếu anh?

 

Dẫu có thể ngày mai mưa

dẫu thành phố khi em quay về vẫn ngập ngụa khẩu trang và nước sát khuẩn

dẫu anh ở đâu đó trong hàng người bị cách ly em không thể gặp

em cũng sẽ cười như hôm nay nở như hôm nay

dưới nắng

 

Đến đường hoa mười giờ lúc mười giờ

em giống như cánh hoa kia

mỗi ngày đều tận hiến...

 

(Tiền Giang, 18-8-2020)

 

Tự ca của những Eva cô quạnh

 

Em nằm trong danh sách của những người đàn bà
Không có đàn ông
Dầu vẫn có trái tim nóng hổi
(Trái tim thèm một điều tội lỗi
Được yêu và phản bội chính mình !)
Ôi những Eva đôi mắt quầng xanh
Đêm thao thức những nỗi buồn trong ngực
Những vết rạn đầu đời tấm tức
Như con chim che mặt trước cành cong
Khi tình yêu sủi bọt phía sau cùng
Lời tuyên hứa một mình
Đã nổi

Những Eva bối rối
Trái tim khôn ngoan, khờ khạo, ngu đần
Bàng hoàng sau câu nói vĩ nhân
(Vĩ nhân đúng là vĩ nhân khi thốt thành lời nói)
Ôi trái tim em thèm một điều tội lỗi
Được yêu và phản bội chính mình

 

Liên đêm

Liên đêm
con bướm bay vào giấc ngủ
em tha thiết vẫy những mộng mị hoang đường
ngực góa phụ êm như nhung
phơi mở

Khuôn mặt ai rất mờ
thêu dệt từng lời ngọt dịu
tự hỏi mình có thể yêu ai nữa không
những tình yêu cào xé

Hỡi anh
đôi môi ngàn đêm nứt nẻ
ngàn đêm mộng mị thức tỉnh
em đã hôn anh không kể ngậm ngùi
cùng niềm hoan lạc
ngày mai biết đi đâu về đâu
hun hút một hành lang mệt mỏi...

 

Phạm Thị Ngọc Liên

 

*

 

NGUYỄN THÙY SONG THANH

 

song thanh
(Tranh của họa sĩ Nguyễn Văn Đô)

 

Cõi ước

 

Cơn mưa bão suốt một mùa người đã tan hoang

Nước về nguồn tịch mạc

Gió chìm cõi vô vi

Sấm sét chui sâu hang cực lặng

Người ta trả chàng vào lòng đất

Tôi thả theo một bông hoa đẹp nhất

Nụ hôn của Đất và Trời

Và một nắm đất

Nắm đất đã chảy máu thơ chàng thời chiến tranh

Vẫn chưa ngưng thời hòa bình

Và thả thêm sợi tóc run rẩy sinh linh

Từ mái đầu sương bứt xuống

Sẽ dẫn đường liêu trai

Vượt lũy âm dương

Đưa chàng về bên tôi

Và thả cuối cùng ngọn bút với trang giấy thinh không

Để chàng mở cửa niết bàn cực lạc

Mở cửa âm phủ lụy đọa nát tan

Mở cửa thiên đàng cõi sống vĩnh cửu hạnh phúc

Mở cửa trần gian phiêu hốt

Mở hết

Mở hết

Rao truyền sứ điệp chúng ta sẽ thuộc về nơi khác

Tất cả chỉ còn là một Cõi Yên Vui

Hằng hằng duy nhất

 

(3.2015)

 

Bông hồng và những chuyến xe buýt trên đưòng Bolsa

 

Trong dòng luân lưu đại động mạch

hồng cầu nhiễm sắc vàng, đen, nâu

những hạt trân châu

nhộn nhạo cùng sạn cát

xe cộ ùn ùn ngày trơ phiêu dạt

một băng ghế đìu hiu

một bông hồng âm u

làn tóc rối cỏ

lòng quạnh tàn xưa

 

Cô tài xế da đen vừa nhịp chân rầm rập

lên sàn xe vừa bẻ tay lái vừa ca

In that black heaven, we are…

cứ thế khắp phố phường

chúng ta trôi qua

 

Những con đường nằm nghe gian lao

những cây phượng tím khóc đời hư hao

mỗi trạm dừng thả một bước chân xiêu đổ

Cali giàu có và Cali tan vỡ.

 

Ơi xe, đừng dừng. Thôi cứ lăn

còn muốn nghe cô tài xế hát khúc ca đen

trân châu cùng sạn cát

khua rền cõi thiên đường

 

Chiều chưa đi chiều còn nấn ná

bông hồng cao quý ơi chớ vội tàn

e nước mắt không kịp với hồn ta khóc lả

Black heaven

 

Nguyễn Thùy Song Thanh

Cali, 2006)

 

*

 

VŨ QUỲNH HƯƠNG

 

quynh huong

 

Đổi giờ

 

Bóng tối tràn lấp mặt trời
tôi vặn kim đồng hồ
tặng mình thêm một giờ mùa đông
một giờ một giờ đầy đặc bóng tối
buổi chiều năm giờ tan sở buồn như nửa khuya
hơi ấm hệ thống sưởi không ấm đủ ngoài vỉa phố

 

Tôi nâng niu trên tay chiếc bóng
một ngày tàn
thở ra khói
mùa đông không lãng mạn
mùa đông những ngày lễ vang động tiếng rộn ràng
dội ngược thành
những tiếng than

 

Tôi vặn kim đồng hồ
xin thêm một giờ hạnh phúc
một giờ một giây một khoảnh khắc
tôi sống ngon lành như ăn uống
ngấu nghiến

 

Tôi vặn kim đồng hồ
nhận thêm một giờ sầu bi
một giờ một đời một thế kỷ
tôi sống nhọc nhằn thiếu dưỡng khí
tôi già tôi da mồi tóc bạc
tôi chết

 

Tôi vặn kim đồng hồ
thêm bớt trả giá kỳ kèo từng phút từng giờ
trái tim thoi thóp

 

Tôi tiếp tục vặn kim đồng hồ
tiếp tục thở

 

Trăng ở Halfmoon Bay

 

Hãy tới hãy tới hãy tới Halfmoon Bay với anh

Ở một nơi trăng biếc gió xây thành

Đêm và mộng và anh cùng ước hẹn

Ở Halfmoon Bay màu trăng rất xanh

 

Hãy bước khẽ hãy ngồi đây với anh

Đêm nguyệt tận bầy chim bay không về

Em muốn thấy sao khuya làm hôn lễ

Nghiêng lòng xuống và ở đây với anh

 

Hãy nói nhỏ hãy nhìn sâu mắt anh

Đêm thở hơi em nồng nàn cỏ biếc

Đi đi với anh qua cửa trăm năm

Trăng đã rụng và môi em đã chín

 

Môi ngực ủ trầm hương em đến đây

Bờ cõi mộng đã đầy lên phương này

Lòng anh đã trải nguyệt tràn năm cửa

Đêm Halfmoon Bay và anh đã say

 

Trăng Halfmoon Bay làm em nhớ thương

Những bờ sông trải lụa tới thiên đường

Những lòng thuyền neo bến chờ thinh vắng

Áo lụa em vàng hơn xiêm áo trăng

 

Những con trăng ở đậu lúc xuân thì

Đợi em về ngủ mộng giữa đôi mi

Cửa thanh xuân khép nhẹ chờ trăng tới

Trăng mặn nồng cúi hôn niềm phân ly

 

Trăng Halfmoon Bay tình yêu xứ này

Thắp sương mù nhẹ mỏng tà váy bay

Phấn son thơm vây ảo lòng thiếu nữ

Buồn lặng ở bên trời không ai hay

 

Ở Halfmoon Bay mùa trăng đã xa

Lối em qua khói sóng đã phai nhòa

Áo em xưa lạnh nguyệt trong tà mộng

Đêm thở dài nghe sao khuya đổi ngôi

 

Đêm và mộng và anh ngoài cõi gió

Ở một nơi trăng khóc nuối tình duyên

Ở một nơi sầu trổ nhánh ưu phiền

Ở Halfmoon Bay em và trăng đã khóc.

 

Vũ Quỳnh Hương

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và đã bị cầm tù trong nhiều năm. Năm 1998, Hòa Thượng được tổ chức Human Rights Watch tặng giải thưởng về nhân quyền Hellmann-Hamett Awards. Hòa Thượng là Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Hòa Thượng được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật, được coi là nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đã soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao
Nhà văn Jon Fosse vừa đoạt giải Nobel Văn chương về kịch nghệ năm nay, 2023. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng trong lãnh vực thơ và truyện. Tác phẩm của ông được dịch ra khoảng 50 ngôn ngữ. Tìm hiểu về mục đích sáng tác, ông cho biết, “I hope they can find a kind of peace in, or from, my writing.” (Tôi hy vọng người đọc có thể tìm thấy sự bình an trong các tác phẩm của tôi.) Tác phẩm nổi tiếng với nội dung sâu đậm của ông là dãy “Septology”. Đây là một từ vựng mới, có ý nghĩa là một loạt bảy cuốn sách. Có lẽ, Septology phát xuất từ “Heptalogy” mà ví dụ rõ rệt nhất là dãy tác phẩm Harry Potter.
Mùa thứ ba trong năm đã chớm về. Autumn ngoài nghĩa mùa thu, còn mang nghĩa ẩn dụ là chỉ lúc xế chiều, lúc ngày sắp tàn, là mùa mà ban ngày ngắn và dần lạnh hơn. Bên cạnh hình ảnh biểu tượng là mùa lá rụng, lại cũng là mùa phần lớn trái cây được thu hoạch, vì gắn với đời sống thiên nhiên này mà từ rất lâu văn hóa Tây phương đã nhân cách hóa mùa thu là người phụ nữ trẻ đẹp đầy sức sống với mái tóc gắn đầy lá hoa quả chín, là hình ảnh vừa nên thơ vừa chứa đựng sức sống diệu kỳ của mùa gặt hái.
Nhà phê bình văn học Trung Quốc đời nhà Thanh, Viên Mai, có nói, “Làm người không nên có cái tôi, nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Thi hào Tagore cho rằng, “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ảnh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. Cả hai nhận định này đều đề cao cái Tôi-làm-Thơ, và cách biểu hiện những thuộc tính về Tôi ấy như thế nào trên ngôn từ thơ. Có hai yếu tố không ai phủ nhận được là cảm xúc và sáng tạo, chính hai yếu tố này định hình phong cách của nhà thơ. Cảm xúc thực được chuyển tải qua thi ngữ, thi ảnh mới mẻ, cá biệt, thì thơ càng có sắc thái nổi bật để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc, dường như không quá để nói rằng điều này định đoạt sinh mệnh một bài thơ. Thơ chỉ thực sự sống khi nó phản ảnh được bản ngã độc đáo của nhà thơ.
Tháng 7. Mùa hè đang gửi đến đây một sứ giả vô cùng dễ thương. Phượng tím. Đi đâu chợt cũng bị màu tím thơ mộng ấy níu mắt nhìn, làm dịu đi cái nóng chói chan. Bạn đang ở đâu, buổi sáng rực nắng đi chơi hay chiều mệt nhoài sau giờ làm việc, hay tối, hay khuya, hàn huyên bạn thiết, hoặc giả nói chuyện một mình, tất cả những tâm trạng thời gian đó, bạn sẽ tìm thấy được trong Căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc, nơi các nhà thơ Hoàng Trúc Ly, Duy Thanh, Nguyễn Thùy Song Thanh, Tomas Transtromer, Âu Thị Phục An, Chiêu Anh Nguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trương Đình Phượng, Inrasara, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Xuân Thiệp, đọc cho bạn nghe những vần thơ mang âm hưởng chói chan của mặt trời mùa hạ, hoang mạc gai xương rồng, mật ngọt của thiên nhiên…
Một mùa hè, khi chàng vẫn còn trẻ, chàng đứng bên cửa sổ và tự hỏi họ đã đi đâu, những người đàn bà ngồi bên biển, ngắm nhìn, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ đến, gió nhẹ phả vào da họ, gửi những lọn tóc xoã ngang môi họ. Họ đã ngã xuống từ mùa nào, họ đã lạc lối từ ý niệm nào của nét yêu kiều? Đã lâu rồi kể từ khi chàng nhìn thấy họ trong vẻ lộng lẫy đơn độc, trĩu nặng trong nỗi biếng lười, dệt nên câu chuyện buồn về niềm hy vọng bị bỏ rơi. Đấy là mùa hè chàng lang thang trong màn đêm kỳ vĩ, trong biển tối, như thể lần đầu tiên, để tự toả ra ánh sáng của chính mình, nhưng những gì chàng toả ra là bóng tối, những gì chàng tìm thấy là đêm.
… Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân Lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ... (Ngô Thế Vinh, trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn.)
LTS: “19 Hè 72” là một bài trường ca của nhà thơ Ngu Yên viết về chiến tranh Việt Nam với những hình ảnh thống khổ và chết chóc đau thương do chiến tranh gây nên. Và để tri ân người lính Việt Nam Cộng Hòa. Khác với những trường ca thường thấy trước đây, nhà thơ đã kết hợp một cách sáng tạo giữa thi ca với tài liệu từ những trang bút ký, hình ảnh chiến tranh, ca khúc, thậm chí quân sử, để thơ không chỉ là những câu chữ thuần túy nữa, mà là một bức tranh linh động và xúc động khiến người đọc không khỏi bồi hồi khi đọc, dù những điều được nhắc đến trong bài thơ xảy ra cách nay đã trên nửa thế kỷ. Việt Báo trân trọng giời thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.