Hôm nay,  

Dịch Kafka (2)

06/06/200300:00:00(Xem: 6107)
Theo Muirs, thách đố chính mà người dịch Kafka phải đương đầu, là làm sao hòa hợp được (reconcile) trật tự từ của Kafka - lẽ dĩ nhiên là nằm trong luật lệ của văn phạm tiếng Đức - với tiếng Anh, vốn đọc lên nghe có vẻ tự nhiên, và giống như thành ngữ. Với Muirs, từ của Kafka thì "trần trụi và không thể hiểu sai đi được (infallible)... chỉ trong trật tự đó Kafka mới có thể nói điều ông phải nói... Vấn đề chính của chúng ta là tạo ra một thứ văn xuôi tiếng Anh, tự nhiên với tiếng Anh như của Kafka, theo cách riêng của ông, tự nhiên với tiếng Đức."
Không phải dễ, lúc nào cũng viết ra một cách tự nhiên, nhưng với Muirs, vấn đề là phải làm sao cho có sự tươi mát trong cách đặt câu, cộng thêm sự thay đổi từ. Do đó, xem ra thì có vẻ nghịch lý, bản văn dịch của Muirs lại sống động hơn so với nguyên bản của Kafka, bởi vì tiếng Đức mà ông sử dụng là theo kiểu kiềm chế (restrained), có thể nói, một thứ tiếng Đức trung tính, dửng dưng (neutral), và ông là người chẳng hề sợ hãi chuyện lập đi lập lại từ.
[Đây chính là điều mà Kundrea đã chỉ trích những dịch giả bản tiếng Pháp như Vialatte. Bản dịch của ông này thoải mái (librement) đến độ nhà xuất bản Gallimard, vào năm 1976, khi tái bản Kafka trong tủ sách Pléiade, đã tính cho sửa lại những chỗ đã dịch sai, nhưng những 'hậu duệ' của Vialatte phản đối, nhà biên tập là Claude David phải làm những phụ chú ở cuối sách, nhiều đến nỗi độc giả cứ phải lật lại những trang này để theo dõi, và để hiểu bản văn!].
Hơn nữa, mặc dù cách làm chủ tiếng Đức một cách đầy kinh ngạc, mà lại do tự học, của Muirs, mặc dù ông chồng đọc rất rộng những nhà văn Đức và Áo đương thời, nhưng cả hai đều không có được cái background (nền tảng) văn học Đức. Thành thử cách sử dụng điển cố (references) văn học của họ khá bừa bãi. Sau cùng, còn vấn đề môi trường, khu vực sống của người Đức và người Áo, mỗi vùng có một số từ ngữ đặc biệt, mà họ chỉ hiểu đại khái.

Một trong những điều không may đối với hai vợ chồng Muirs, khi dịch Kafka, là hệ thống hành chánh trong ngành tòa án và luật pháp. Thí dụ như trong trong Vụ Án, khi Joseph K. nói với những người tới bắt, anh muốn gọi điện thoại cho "Staatsanwalt Hasterer". Vợ chồng Muirs dịch là "luật sư Hasterer". Những độc giả Anh Mỹ quen thuộc với hệ thống pháp luật của họ, lại nghĩ rằng K. yêu cầu cho gặp luật sư của anh. Sự thực, K. tính bịp những kẻ tới bắt anh, bằng cách dọa kêu điện thoại tới văn phòng khởi tố (prosecutor's office), để thưa họ ra tòa.
Trong Tòa Lâu Đài, bản dịch của Muirs phạm phải hàng trăm những lầm lỗi về chi tiết, nếu xét riêng từng cái, thì không quan trọng, nhưng một khi độc giả gặp quá nhiều sai lầm như vậy, sẽ hoang mang, khiến họ phải tìm về nguyên bản, để kiểm chứng. Vợ chồng Muirs nhận xét, "Đọc Kafka giống như đọc một cuốn sách du lịch, được miêu tả thật chi ly về từng chi tiết về phong tục, cách ăn mặc, đồ dùng của một bộ lạc mới được phát hiện", nhưng khi đụng tới cuộc sống thường nhật mỗi ngày của vùng Trung tâm Âu Châu, họ bị lầm lạc. Thí dụ như "Strohsack" mà K. ngả lưng tại nhà trọ trong làng, không phải bị dâu mà là một cái nệm nhồi dâu.
Hệ thống điện thoại kỳ cục trong tòa lâu đài cũng làm cho họ lúng túng. Với họ, "telephonieren" (gọi điện thoại) là tiếng chuông điện thoại. Khi những viên chức trong Tòa Lâu Đài ngắt bộ phận làm chuông reo, thì Muirs dịch là họ bỏ điện thoại ra ngoài, và khi nối lại hệ thống chuông, họ dịch là treo điện thoại lên.
Nếu hệ thống luật pháp của Cựu Đế quốc Áo xa lạ với Muirs, những hành sử của những viên chức giả tưởng ở trong tòa lâu đài còn xa lạ hơn. Nếu không thêm từ, hoặc dùng chú thích, độc giả Anh Mỹ sẽ không thể hiểu nổi một số câu, đoạn. Đôi chỗ, vợ chồng Muirs còn đoán già đoán non, về những dự tính ở trong đầu tác giả, thay vì trỏ lại với từng câu, từng từ, trong nguyên bản. Đôi chỗ dịch giả không nhìn thấy những gì trước mắt họ, thí dụ "Her blank loveless gaze", Kafka viết, được dịch là "Her cold eyes", bỏ mất tính hàm hồ của từ "loveless". Trên một bình diện rộng lớn hơn, dịch giả đành hy sinh tính trung thực của bản văn, đổi lấy viễn ảnh toàn tác phẩm, khổ một nỗi, viễn ảnh là của họ, không phải của Kafka. Họ, đoán già đoàn non, qua Brod, rằng Kiểm tra viên K. là một kẻ hành hương dễ chịu. Thành thử khi K. nói còn bà vợ và đứa con ở nhà, bí quá, họ đành cắt bỏ người vợ và đứa nhỏ, cho hợp với cú đoánï!
(còn tiếp).
Jennifer Tran

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau Đại Hội X, Cộng sản Việt Nam đã tung ra một số đòn khủng bố nhắm vào các nhà đối kháng đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn Dân Chủ, đặc biệt là thẳng tay triệt hạ nơi thờ phượng của Hội thánh Tin Lành Mennonite do Mục sư Nguyễn Hồng Quang quản nhiệm và ngăn chận việc chuẩn bị
Sau khi mon men mãi ở cửa biển, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào luồng trao đổi tự do của thế giới như người giăng buồm ra khơi. Ngoài đại dương sẽ có cá lớn, nhưng cũng có sóng cả... Triển vọng và rủi ro đều có đấy và có thể thấy trước được từ kinh nghiệm của các nước khác, nếu như muốn chịu mở mắt. Thực ra, người dân đã mở mắt và
Thật vô cùng khó nói, khó giải thích và khó phán xét cho sự Giác Ngộ chân chính của mình và của người chỉ vì chúng ta đã hằng hà sa số kiếp sống trong Nhị Biên (có không, thật giả, sang hèn, cao thấp, sinh tử … cùng với những tập khí sâu dầy ích kỷ, ghét ghen, tranh chấp, ác độc, hận thù, bắt buông, tư lợi…v…v…) Cho nên
Xin Xin một bông hồng nhỏ Ép vào giữa trái tim Xin nụ cười rạng rỡ Cho anh và cho em Xin lung linh như nến Xin nồng nàn như đêm Xin mênh mông trời biển Cho anh và cho em.
Có lẽ chưa có một tác giả nào từ chối nửa triệu Mỹ kim bản quyền khi sách của họ được mua để làm phim. Thiền sư Nhất Hạnh là người thứ nhất, đã không nhận tiền bản quyền khi cho phép nhà tư bản Bhupendra Kumar Modi
Họ Đặng ở Hành Thiện là dòng họ danh gia khoa bảng miền Bắc. Một họ, hai nhánh Đặng Xuân và Đặng Vũ, đều có những nhân vật tiêu biểu trong suốt cuộc tương tranh giữa hai phe Quốc Cộng. Nhánh Đặng Xuân, có ông Trường Chinh Đặng Xuân Khu, tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng Sản
Thời gian vừa qua trong những ngày cuối tháng 5-2006, dư luận trong và ngoài nước xôn xao trước sự bạch hoá của kỹ sư Bạch Ngọc Dương về việc bị công an mật vụ, an ninh nhà nước CSVN đàn áp qua các bài viết: "Bằng chứng về việc
Nước Việt Nam từng có bốn ngàn năm văn hiến rạng rỡ. Dân tộc Việt Nam luôn sống đoàn kết, thương yêu đùm bọc nhau bất kể thời thế thăng trầm. Người Việt từng được đánh giá là thông minh, cần mẫn, hiền hoà và hiếu khách. Non sông Việt nổi tiếng phong phú tài nguyên, có nhiều kỳ quan
Tôi từng có khá nhiều bạn bè, người thân, họ hàng quen biết trong ngành công an. Tôi hiểu rằng bộ máy công an đông đảo rộng khắp, trải khắp đất nước, với ngân sách cực lớn, với trang bị hiện đại đắt tiền. Nhiều anh chị em Công an ở cơ sở làm việc tận tụy, gần gũi yêu thương đồng bào
Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nguyên Tổng Thư Ký Việt Tấn Xã của Việt Nam Cộng Hoà trước 1975, kể về nữ phóng viên Đặng Tường Vi: “Năm 1967, Việt Tấn Xã có đợt thi tuyển nhân viên lớn. Sau đó, một cô vào văn phòng Tổng Thư Ký
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.