Hôm nay,  

Thủ Mơn Condi Rice

09/04/200400:00:00(Xem: 5319)
Truyền thông Mỹ theo dõi vụ điều trần của Condoleezza Rice ngày hơm qua để xem Condi Rice và Dick Clarke, ai thắng ai bại. Sự thật cĩ khi lại phức tạp và nghiêm trọng hơn vậy.
Ngay giữa chiến tranh và trong mùa tranh cử, Hoa Kỳ lại mở cuộc điều tra về nguyên do và hồn cảnh dẫn đến vụ khủng bố 9-11 để từ đĩ tìm phương thức đối phĩ. Cuộc điều tra lại bị ơ nhiễm vì mục tiêu chính trị bầu cử với cuốn sách và chiến dịch tố giác chính quyền Bush do Richard Clarke tiến hành, với sự tường thuật quá chu đáo và ồn ào của truyền thơng. Kết cuộc thì vì nhu cầu tìm hiểu đúng sai, thượng cấp cũ của ơng Clarke là Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Bush là Condoleezza Rice phải ra điều trần, hữu thệ và cơng khai, trước ủy ban điều tra, gọi tắt là “Ủy ban 9-11”.
Với thĩi quen cố hữu, truyền thơng Mỹ coi đây là màn song đấu gián tiếp giữa Rice và Clarke, pha thư hùng phụ trội và miễn phí bên lề cuộc tranh cử. Nhưng, những điều mà vị cố vấn thân tín của ơng Bush trình bày trong gần ba tiếng điều trần hơm qua Thứ Năm phải làm ta nhìn xa hơn vậy, vào cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ đang tiến hành. Nếu cĩ cần một kết luận thì Hoa Kỳ khơng được chuẩn bị để đối phĩ với vụ khủng bố 9-11 và ngày nay cũng vẫn chưa được chuẩn bị để chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố.
Trước hết, qua lời Condi Rice, từ cả chục năm trước vụ 9-11, Mỹ đã cĩ nhiều tín hiệu về mục đích của al-Qaeda và trùm khủng bố Osama bin Laden, mục đích đĩ là gây chiến và gieo tai họa ngay trong lãnh thổ Mỹ. Nhưng, những tín hiệu này khơng đủ chính xác để Mỹ ngăn ngừa vụ 9-11, và tâm lý ứng chiến cũng khơng cĩ, trước sau chỉ là những nỗ lực phịng thủ thụ động, hợp pháp. Cụ thể là tìm cách bắt giữ bin Laden để xin dẫn độ về Mỹ để bị truy tố trước tịa án. Đĩ là đặc tính của đối sách thời Bill Clinton. Khủng bố đã khai chiến với Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ lại khơng khai chiến với khủng bố. Chúng ta thiếu tâm lý chiến tranh.
Khi George W. Bush nhậm chức, ơng cĩ một khảo hướng khác, cĩ tính chất chủ động hơn vì coi đây là một cuộc chiến sinh tử. Nhưng, chính quyền ơng gặp khá nhiều trở ngại và chậm trễ để trù hoạch ra một đối sách quyết liệt hơn. Những trở ngại đĩ là thiếu phương tiện nhân sự, là cách xử lý đầy tính chất thư lại trong bộ máy an ninh và tình báo, là thủ tục chính trị của đảng Dân chủ đối lập để phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm của Hành pháp mới. Quan trọng nhất trong những trở ngại này là một loại vấn đề thuộc về cơ cấu, sự cạnh tranh và thiếu hợp tác giữa hai bộ phận then chốt là tình báo CIA và an ninh FBI. Nĩi cách khác Hoa Kỳ khơng cĩ tai mắt đủ tinh vi để đối phĩ với lọai đe dọa mới.
Theo lời Condi Rice, những trở ngại này giờ đây vẫn chưa hết và điều đĩ cĩ thể bị đối phương khai thác để cơng kích khả năng của một Cố vấn An ninh, là người cĩ nhiệm vụ phối hợp hoạt động của các bộ phận về an ninh và tình báo.
Một cách gián tiếp, Condi Rice cũng cho biết là trong suốt giai đoạn “tiền 9-11”, chính quyền Bush vẫn phải lưu dung thành phần nhân sự cao cấp do chính quyền Clinton để lại. Điều đĩ cĩ thể giải thích vì sao việc trù hoạch chính sách thường bị tiết lộ, thậm chí phá hoại, vì mục tiêu chính trị nội bộ. Sự kiện này cĩ thể sẽ được cánh hữu hay các xu hướng thân Bush khai thác để cơng kích phe Dân chủ và hĩa giải địn phá hoại của Dick Clarke.
Nhưng, bao trùm lên những tranh chấp nhất thời về lẽ đúng sai hay thắng bại giữa hai đảng và hai người, dư luận cịn thấy cái lẽ thắng bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố.
Sau khi bị tấn cơng nặng nề, Hoa Kỳ đã thành cơng trong việc phịng thủ là bảo vệ an ninh lãnh thổ, nhưng chưa thành cơng trong việc diệt trừ khủng bố cho tuyệt căn. Những nguyên nhân khiến Mỹ thất bại trong việc ngăn ngừa vụ 9-11 cĩ thể cũng và vẫn là những nguyên nhân khiến Mỹ sẽ khơng thành cơng trong trận chiến diệt khủng bố.
Một thí dụ cụ thể được Cố vấn Rice nêu ra là đối sách của Mỹ với al-Qaeda đã khơng cĩ kết quả vì đối sách của Mỹ với A Phú Hãn khơng thành cơng, mà đối sách với A Phú Hãn khơng thành cơng cũng vì chánh sách của Mỹ với Pakistan khơng thành cơng. Chúng ta cứ đi theo xốy chơn ốc đĩ vào những hành lang bí hiểm của tiến trình quyết định để thấy ra là nước Mỹ rất trọng nguyên tắc dân chủ và chế độ pháp trị, nhưng vì vậy mất nhiều thời giờ cơng sức đối phĩ với nhau thay vì với quân khủng bố.

Một thí dụ khác cũng cần được nhắc lại ở đây là nguyên tắc “tiên hạ thủ”, tấn cơng trước để diệt hậu họa. Sau vụ 9-11, người Mỹ cĩ thể đồng ý với nguyên tắc này, và cịn cĩ vẻ ân hận là khơng nghĩ ra từ trước, nếu khơng, cĩ khi đã khỏi bị tổn thất 9-11. Nhưng, ngay sau đĩ, dư luận lại mất sự thống nhất ý chí, khi nhiều người đả kích đạo luật Ái quốc (Patriot Act) nhằm tăng cường kiểm sốt để trị an là đạo luật vi phạm quyền tự do của cơng dân. Như đứa trẻ bước vào hàng quà, cái gì cũng muốn cĩ, người Mỹ muốn nhiều thứ một lúc và các chính khách lại khéo khai thác tâm lý đĩ để tìm thành quả nhất thời trong khi quay lưng lại cuộc chiến. Và khi gặp khĩ khăn trở ngại thì xoay ra đổ lỗi cho nhau.
Kết luận chung của người quan sát tồn bộ vụ điều trần và đọc lại tồn bộ bản văn của cuộc điều trần là Ủy ban 9-11 sẽ cĩ trách nhiệm rất nặng để xác định lại ưu tiên xử lý của mọi thành phần hữu trách, từ chính quyền, các bộ phận về an ninh, tình báo, quân sự hay tư pháp, cho đến giới dân cử. Người viết khơng tin rằng Ủy ban này sẽ hồn thành được trách nhiệm, căn cứ trên việc họ đã khơng tránh nổi làn giĩ hơi hám của chính trị gây nhiễu xạ và che mờ khả năng ứng phĩ của quốc gia. Đây là một kết luận khá bi quan.
Ngồi nội dung sâu xa của cuộc điều trần, hãy nĩi về hình thức.
Condi Rice là người lịch sự nhưng quyết liệt và lạnh lùng phản bác từng địn tấn cơng của các ủy viên nêu câu hỏi với dụng ý hay ác ý. Sơi nổi nhất là khi (cựu) Nghị sĩ Bob Kerrey dồn dập tra hỏi và phải lãnh những câu trả lời mạch lạc mà dồn dập khơng kém, khiến ơng mất bình tĩnh. Là người dày dặn kinh nghiệm tranh luận nghị trường, ơng gặp một cao thủ già địn và coi như bị thất thế.
Một điều nữa ở bên lề sẽ làm truyền thơng Mỹ tìm ra đồ chơi mới là Tờ trình Tổng thống về An ninh Tình báo ngày 6 tháng Tám năm 2001 (một tháng trước vụ 9-11). Báo chí sẽ địi giải mật tài liệu này sau khi nội dung bị chính các Ủy viên đọc ra. Tiêu đề của tài liệu là “Osama bin Laden nhất định tấn cơng vào trong nước Mỹ”, nhưng lại khơng đủ chính xác để cĩ thể kết luận là bin Laden cĩ kế hoạch tấn cơng nước Mỹ. Sự khác biệt tưởng như lý thuyết này thực ra là vấn đề lớn. Chủ nghĩa cộng sản cũng từng địi chơn sống chủ nghĩa tư bản, nhưng quyết tâm đĩ chưa đủ chính xác bằng một loại thơng tin khác: “một nước cộng sản sẽ tấn cơng, bằng cách gì, ở đâu, vào lúc nào.” Condi Rice cho biết là nội dung đĩ dựa vào những phân tách đã cũ và khơng đề ra được giải pháp đối phĩ thích đáng.
Cũng liên hệ đến vấn đề trên là câu hỏi về các giải pháp đối phĩ do Richard Clarke đề nghị. Theo lời bà, những giải pháp đĩ khơng hữu hiệu và cịn khiến nước Mỹ đi lệch huớng (wrong direction). Khơng thể nào cĩ lời phản bác rõ ràng hơn về khả năng chuyên mơn của ơng Clarke, và chi tiết đĩ cĩ thể giải thích vì sao ơng ta đảo ngược lập trường xoay ra tấn cơng chính quyền đã lưu dụng ơng sau tám năm phục vụ chính quyền Clinton trong bộ phận chống khủng bố, mà chống khơng xong.
Dick Clarke cĩ nhắc đến một tài liệu báo động đệ trình Condi Rice bảy ngày trước vụ 9-11 mà khơng được cứu xét. Được Ủy viên Roemer hỏi về tài liệu này, Condi cho biết đĩ khơng là một tài liệu cảnh báo về nguy cơ khủng bố mà chỉ là những than phiền đầy xúc động (emotional) về trở ngại hành chánh và thư lại của bộ Quốc phịng hay CIA để thượng cấp Condi Rice tự chuẩn bị khi tham dự buổi họp với các giới chức cao cấp về an ninh. Vả lại, trước đĩ, chính Dick Clarke cũng cơng nhận với Ủy ban 9-11 là nếu chính quyền Bush cĩ thi hành tất cả những biện pháp phịng ngự do ơng đề nghị thì Hoa Kỳ cũng khơng tránh khỏi một vụ 9-11! Thế mà cũng vẫn phân trần cãi cọ!
Lời cuối ở đây là truyền thơng Mỹ chờ đợi tài bắt banh của thủ mơn Condi Rice nhưng ít ai ngờ là nhân vật này chẳng những bắt dính mà cịn đá lại cho rách lưới những ai quan tâm đến chính trị hơn là an ninh. Bậc nữ lưu này quả là đáng sợ cho những ai khơng thích chính quyền Bush. Theo dõi cuộc giao đấu giữa Condi với các Ủy viên Ben-Venister hay Kerrey là điều lý thú, nếu như al-Qaeda và khủng bố khơng cịn đĩ...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.
Ở Hy Lạp thời cổ đại, Thế vận hội Olympics không chỉ là sự kiện để các vận động viên thể hiện sức mạnh và tài năng, mà còn là dịp để những tâm hồn thi ca tỏa sáng – họ sẽ mang những vầng thơ của mình xướng lên trước đám đông khán giả đang háo hức. Và thời đó, các vận động viên cũng thường cậy nhờ những thi sĩ nổi tiếng sáng tác những bài thơ ca ngợi chiến thắng vinh quang của mình. Sau đó, những bài thơ này sẽ được các dàn hợp xướng biểu diễn trong các buổi lễ long trọng. Có một thời văn-võ đã song hành với nhau như thế.
Kể từ khi thượng nghị sĩ JD Vance được chỉ định làm ứng viên phó tổng thống của Donald Trump, các nhà bình luận đã xem xét lại cuốn hồi ký “Hillbilly Elegy” năm 2016 của Vance để tìm hiểu về bối cảnh chính trị hiện nay của Hoa Kỳ. Tám năm trước, Vance là người không bao giờ chấp nhận Trump (Never-Trumper), từng so sánh chủ nghĩa Trump (Trumpism) với “heroin văn hóa,” trong một bài viết trên tạp chí The Atlantic. Tuy nhiên, cuốn hồi ký của Vance là một tài liệu quan trọng để giải thích tại sao chính trị Hoa Kỳ ngày nay lại chuyển hướng ủng hộ Trump.
Từ khi Julius Caesar lìa đời với câu “Et tu, Brute?” (xin tạm dịch: “Cả ngươi nữa sao, Brutus?”), các vụ ám sát chính trị đã không phải là chuyện gì hiếm có. Nhưng liệu với sự phát triển của xã hội thời hiện đại, số lượng các vụ ám sát chính trị có giảm bớt hay không? Liệu vụ ám sát bất thành cựu Tổng thống Donald Trump có phải là một sự kiện ngoại lệ trong các nền dân chủ hiện đại?
Hình ảnh của súng trường bán tự động AR-15 xuất hiện khắp nơi trong đời sống công cộng của nước Mỹ: các nghị sĩ Cộng hòa đeo những chiếc huy hiệu hình AR-15. Cờ Liên minh bay với hình bóng của một khẩu AR-15 và dòng chữ "come and take it" bên ngoài Điện Capitol trong cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1. Chúng cũng được sử dụng để kêu gọi các biện pháp an toàn súng nghiêm ngặt hơn.Vào thứ Bảy vừa qua, khẩu AR-15 xuất hiện trên chính trường Mỹ theo một cách khác – là vũ khí được sử dụng trong vụ ám sát cựu tổng thống Donald Trump.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.