Hôm nay,  

Sao Vẫn Mần Thinh?

20/03/200300:00:00(Xem: 6029)
Hình như chưa có một nhà văn Việt Nam nào lên tiếng, rằng tôi ủng hộ, hay là chống cuộc chiến với Iraq.
Trong khi chờ đợi, thôi đành nói chuyện nhà văn nước người chọn bên vậy.
Trên tờ Phụ Trang Văn Học Thời Báo London, số đề ngày 24 tháng Giêng mục NB, tiểu đề mục Nhà Văn Chọn Bên trước Cuộc Chiến với Iraq. Theo bài báo, hai tuần trước, tờ Observer và Independent on Sunday đã làm một cuộc thăm dò dư luận với một số nhân vật, trong có mấy ông nhà văn, về quan điểm của họ, trước cuộc chiến có nguy cơ xẩy ra, và chắc là khó tránh khỏi. "Hội chứng" mê chiến tranh hình như không còn hợp thời, nhất là về mặt dư luận đám đông, ít ra là từ cuộc chiến Việt Nam. "Tôi nghĩ, đây là một cuộc cuộc chiến không đúng (wrong war), vào một thời điểm không đúng, với những đồng minh không đúng, chống lại những người không đúng (wrong people), nhà soạn kịch truyền hình, Alan Bleasdale nói. Ông đế thêm: "Nhân loại đã đến lúc làm tôi ớn da gà". Bạn đồng nghiệp của ông, là David Hare, thì cảm thấy khó nghĩ. "Tôi mong một sự chấm dứt chế độ độc tài ở Pakistan, Saudi Arabia, Miến Điện, Trung Quốc cũng như là ở Iraq [ông quên thêm vô Việt Nam]. Hơn hết, và trên hết, tôi mong [có] một chính quyền Huê Kỳ chịu chơi, dám 'tưởng tượng' ra một chính sách vì hoà bình."

Một vài nhà văn cùng có ý nghĩ, rằng siêu quyền lực độc diễn là Huê Kỳ, có những động cơ sâu xa, kín đáo, và thật khó nói huỵch toẹt ra được. Trong số này, là nhà văn Nobel người Đức, Guenter Grass. Ông chơi ván bài lật ngửa: "Ối dào, chỉ tại dầu hôi hôi quá, nó bốc mùi tới tận xứ Huê Kỳ." Quan điểm của ông được một số nhà văn chia sẻ, trong có Martin Jacques, cựu Chủ biên tờ "Chủ nghĩa Marx bây giờ". Và nhà văn A.S. Byatt: "Tôi nghĩ có mùi dầu ở đó." Cả hai nhà văn, J.G. Ballard và Frederick Forsyth đều cho rằng, thủ tướng Anh, Tony Blair nắm trong tay nhiều thông tin hơn, so với mớ tin tức ông nói ra cho công chúng hay. Trong khi Ballard cho rằng, thật là "một nhục nhã lớn lao", và nó khiến cho dân chúng thật khó mà quyết đoán, rằng cuộc chiến chính đáng hay là không, còn Forsyth thì đặt một sự tin cậy thật là cảm động vào những người lãnh đạo của ông: "Nến bạn nói rằng Bush quyết định xâm lăng một xứ sở xa lắc xa lơ xứ Cờ Hoa, là nhà của ông ta, một xứ sở chẳng đe dọa ông ta, như vậy bạn phải là một thằng khùng, thằng điên. Ông ta đã dụ khị Mr. Blair cùng làm điều đó và Mr. Blait thì đâu có khùng. Có thể cả hai biết một điều gì đó mà chúng ta không biết."
Những ngày này, xung đột, có lý hay không có lý, là chẳng ai ham, thành thử bên phò chiến chỉ lơ thơ vài mạng. Trong khi những nhà văn như John Le Carré, Richard Dawkins và một số nhà văn khác chống chiến tranh, còn trơ ra là Forsyth và nhà văn Anh gốc Ấn Độ, Salman Rushdie. Rushdie tin rằng, "có trường hợp không thể trả lời được, thí dụ như thay đổi chính quyền ở Iraq.... Nếu Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc thoả thuận được với nhau, như vậy là thế giới còn lại phải ngưng ngồi lên tay của mình và cùng theo người Mỹ, và người Anh trong việc khử bỏ cho thế giới tên cầm quyền quỉ sứ này."
Bây giờ thì chẳng cần LHQ, Mỹ cứ một mình một cuộc chiến. Thành thử chúng ta vẫn có quyền ngồi lên tay của mình!
Jennifer Tran

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.