Hôm nay,  

Cưỡi Cọp Iraq

19/10/200300:00:00(Xem: 6371)
Việc Hội đồng Bảo an LHQ thông qua nghị quyết do Hoa Kỳ đề nghị về Iraq với tỷ lệ 15-0 chỉ là một thắng lợi tượng trưng. Đáng chú ý hơn ở bên cạnh là dường như chính quyền Bush đã có một chiến lược tại Iraq. Thà trễ còn hơn không.
Hoa Kỳ vào Iraq vì nhiều mục tiêu và trong khi dư luận còn tranh cãi về mục tiêu phụ là giải trừ võ khí tàn sát WMD, người ta có thể quên hai mục tiêu chính. Đó là 1) lật đổ một chế độ hung đồ nằm tại một khu vực hung hãn nhất để tiêu diệt mọi khả năng hợp tác của các quốc gia trong khu vực với khủng bố al-Qaeda, và 2) qua việc lật đổ chớp nhoáng, gây chấn động tâm lý trong thế giới Hồi giáo, rằng Hoa Kỳ không là cọp giấy vì thiếu ý chí, hoặc đánh trống bỏ dùi vì những hục hặc nội bộ....
Cuối cùng, Hoa Kỳ đã lật đổ chế độ Saddam Hussein như sấm sét rồi thủ vai ông phỗng trước một vụ tấn công tập thể từ mọi phía: dư luận báo chí Mỹ, Âu châu, Hồi giáo, các lãnh tụ ngoại quốc muốn cho George W. Bush một bài học, các chính khách Dân chủ đang kiếm phiếu, các nhóm tàn quân của chế độ Saddam Hussein, các tổ khủng bố Hồi giáo xâm nhập từ bên ngoài vào Iraq. Bên trong chính quyền, người ta thấy cảnh hục hặc giữa Quốc phòng với Ngoại giao, nạn cận thị của CIA, và nói chung, sự thụ động của ông Bush. Tình trạng đó đã kéo dài quá lâu, từ tháng Năm đến tháng Chín.
Cảm giác chung của dư luận là chính quyền Bush có phản ứng Cộng hòa điển hình: táo bạo lỳ lợm vì tin vào một đạo lý chính đáng nhưng chậm ứng phó trước nghịch cảnh. Phản ứng ù lỳ đó khiến Bush 41, thân phụ đương kim tổng thống, bị thất cử năm 1992, và có thể khiến Bush 43 đang cầm quyền cũng sẽ thất cử.
Từ cuối tháng Chín, tình hình bắt đầu đổi khác và chính quyền Bush dường như đang khởi sự một cuộc tổng phản công khi thấy tỷ lệ ủng hộ sụt dưới 50%. Tuần qua, ông Bush nói thẳng với quần chúng chứ không qua cái lọc của truyền thông tả khuynh và tỷ lệ ủng hộ bắt đầu nhích lên khỏi lằn ranh tâm lý đó. Đáng lẽ, toàn quyền Paul Bremer cũng phải học phép Donald Rumsfeld trong màn đầu của cuộc chiến Iraq là đích thân hoặc cho đại diện trình bày gần như mỗi ngày về tình hình Iraq, không để dư luận tìm hiểu qua sự tường thuật có thiên lệch của truyền thông cánh tả. Thà trễ còn hơn không, cuộc phản công về thông tin đã bắt đầu, do chính ông Bush khởi xướng, được Phó Tổng thống Dick Cheney tiếp tục, và ban tham mưu an ninh và đối ngoại có thể thực hiện tiếp trong những ngày tới.
Về đối ngoại, việc Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ủng hộ nghị quyết do Mỹ soạn thảo và tu sửa có nói lên một sự thật ai cũng hiểu, kể cả Pháp, Nga và Đức trong những thảo luận giờ chót của lãnh đạo trước khi ủng hộ nghị quyết, kể cả Trung Quốc và nhất là Syria: Hoa Kỳ sẽ còn ở lại Iraq rất lâu và lời hứa hẹn sẽ tổ chức bầu cử trễ lắm vào ngày 15 tháng 12 chỉ là lời hứa hẹn. Các xứ đó suy tính rằng vì Hoa Kỳ sẽ ở lại Iraq, nếu bác bỏ dự thảo nghị quyết của Mỹ thì chỉ làm suy yếu Liên hiệp quốc và mất phần ăn trong việc tái thiết Iraq, khi dầu hỏa đã được bơm khỏi lòng đất để xuất cảng và nhiều dự án trùng tu đang chờ đợi. Nghị quyết vì vậy được thông qua mà chả có nước nào hứa hẹn góp quân bình định với Mỹ, cho nên thực chất chỉ là một thắng lợi hình thức, không cần thiết nhưng có ích về ngoại giao và tuyên truyền cho Hoa Kỳ.
Nhưng đó chỉ là phần nổi, phần chìm là thực tế ở tại chỗ.
Sau khi đạt thắng lợi quân sự thần kỳ, Donald Rumsfeld đã trải ba tháng gần như tê liệt, trừ phản ứng thiếu bình tĩnh trước việc tái phối trí trách nhiệm về Iraq vào tuần trước. Ông không thể không biết là sau đợt tấn công ban đầu, tình hình sẽ đổi khác vì tàn dư của chế độ Hussein và các nhóm khủng bố sẽ đánh tỉa lực lượng chiếm đóng để phá hoại việc bình định và cản trở hai mục tiêu chính yếu ban đầu: kiểm soát Iraq và tác động vào tâm lý Hồi giáo. Ông ta có thể biết mà không cho dư luận thấy rằng mình biết đối phó. Chẳng riêng Rumsfeld mà cả nội các của Bush lẫn bộ chỉ huy quân sự tại Iraq đều gây ra ấn tượng đó.

Việc tái phối trí cơ cấu tiến hành kế hoạch bình định Iraq và A Phú Hãn có thể là một điển hình của sự chống đỡ: khi cần cho chìm xuồng một việc gì đó thì người ta lập ra ủy ban liên bộ, liên ngành, để giải quyết. Với bốn phụ tá cho Cố vấn An ninh Condoleezza Rice là cấp chuyên viên cao cấp nhưng không có uy tín chính trị, Ủy ban Ổn định Iraq sẽ không có thực quyền và mọi việc đều tập trung vào quyết định của chính ông Bush. Tuy nhiên, ít ra thì dư luận cũng bớt thấy cảnh trống đánh xuôi kèm thổi ngược giữa các cơ quan hữu trách.
Ở tại chỗ, sự kiện lực lượng chiếm đóng bị đánh tỉa làm trung bình mỗi ngày một binh lính Mỹ bị tử thương không phải là bài toán quân sự nguy ngập. Nhưng đó là bài toán chính trị trầm trọng vì tạo ra ấn tượng là Hoa Kỳ lúng túng, một ấn tượng đi ngược mục tiêu tâm lý đối với thế giới Hồi giáo để gián chỉ (can ngăn) mọi cám dỗ khủng bố. “Hoa Kỳ đang bị sa lầy tại Iraq”, truyền thông hàng ngày nói đến điều đó và dư luận bắt đầu nghĩ như vậy. Khi các nước Hồi giáo lân bang cũng nghĩ như vậy, như trường hợp của Syria và Iran, hai xứ đó mặc nhiên dung túng khủng bố, cuối cùng chẳng ai sợ Mỹ và chẳng ai tin vào quyết tâm hay khả năng lãnh đạo của chính quyền Bush nữa. Dù chưa ra đòn tấn công vào lãnh thổ Mỹ và có khi hết khả năng ra đòn như đã hăm dọa, al Qaeda vẫn đạt thắng lợi.
Cho nên, bài toán Iraq của Hoa Kỳ có hai vế phải cùng giải quyết: bình định bên trong và hăm dọa bên ngoài trong khi chính quyền mở chiến dịch thông tin tuyên truyền về sự thật ở tại chỗ. Chiến lược vừa manh nha có thể là giải trừ khủng bố ngoại nhập trong khi khoanh vùng để ổn định Iraq.
Thứ nhất, Hoa Kỳ không che dấu việc sát cánh cùng Do Thái tiêu diệt các nhóm khủng bố Palestine và Hồi giáo tại Syria, bằng cách giữ im lặng khi Do Thái đột kích Syria hôm mùng năm và khi Do Thái cho biết mình có võ khí nguyên tử và sẵn sàng sử dụng. Điều đó khiến Syria đảo ngược lập trường đã đảo lộn trước đấy: sau tháng Năm thì hứa hẹn hợp tác với Mỹ chống khủng bố, khi thấy Mỹ lúng túng thì chế độ Damascus dung túng khủng bố xâm nhập Iraq, giờ đây đành lại ủng hộ nghị quyết của Mỹ. Syria phải làm trò ảo thuật này vì bị ba mặt giáp công là Do Thái, Turkey và Hoa Kỳ.
Thứ hai, việc Turkey đồng ý gửi quân vào bình định Iraq trước khi có nghị quyết Liên hiệp quốc, cho thấy nghị quyết này vô giá trị, sức mạnh hay sự thuyết phục của Mỹ mới đáng kể. Quyết định đó, do Quốc hội Turkey biểu quyết với đa số áp đảo, cũng là tín hiệu cho Syria và cả Iran.
Thứ ba, sau vụ xung đột nội bộ giữa hai phe Shiite do Iran chi phối bên sau, cuối cùng phe Shiite chống Mỹ tuyên bố sẽ không thành lập một chính quyền riêng tại Iraq. Đồng thời, Iran cũng nghĩ đến việc thương thảo với Mỹ trên hai hồ sơ, một là võ khí nguyên tử hai là việc góp phần bình định Iraq.
Sau cùng, tại Saudi Arabia, chính quyền Hoàng gia Saudi cũng đã chuyển lập trường. Họ truy lùng khủng bố thực tình hơn, họ vừa đồng ý cho tổ chức hội nghị về Nhân quyền hôm 14 và công bố kế hoạch bầu cử đại diện chính quyền cấp địa phương vào năm tới. Vụ Iraq quả là có gây chấn động cho chế độ bảo thủ nhất trong vùng, xưa nay là một đồng minh chí thiết của bộ Ngoại giao Mỹ mà cũng là một hậu cứ đáng kể cho khủng bố. Áp lực của Mỹ đang tạo ra nhiều thay đổi tại Saudi Arabia, như tại Turkey, Syria và Iran.
Tổng kết lại, cục diện Iraq không thể là “vũng lầy Việt Nam” như dư luận ưa nói, vì các lực lượng phiến loạn không có hành lang hay hậu cứ phát triển hình thái chiến tranh phá hoại hiện nay thành chiến tranh du kích để mở rộng thành chiến tranh tiêu hao làm soi mòn ý chí của Mỹ. Nhưng, Iraq vẫn có thể là một thất bại vì nạn du kích chính trị trong nội tình nước Mỹ trước sự hoài nghi và chán chường của công chúng. Thất bại tại Iraq là một chiến thắng của khủng bố, là điều chính quyền Bush không thể chấp nhận. Ông chọn cọp dữ Iraq làm gương và đã cưỡi lên lưng cọp thì không thể xuống.
Vì vậy, sau bốn tháng tê liệt, lúng túng, ông bắt đầu nhúc nhích với một chiến lược mới là giải trừ các hậu cứ khủng bố ở vòng ngọai vi và củng cố việc tái thiết bên trong để Iraq là thí điểm minh chứng quyết tâm và khả năng của Mỹ đối với al-Qaeda. Thà trễ còn hơn không, quả như vậy. Nhưng, chiến lược này có thể giải trừ được khủng bố hay chăng thì người ta còn phải chờ. Những chỉ dấu kiểm nghiệm rõ nhất sẽ là tình hình ở các lân bang với Iraq.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.
Trong thời gian qua, dư luận chú ý nhiều đến cuộc đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và các đại học danh tiếng như Columbia hay Harvard. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp này đã vô tình che lấp vấn đề sâu rộng và nghiêm trọng hơn: chính quyền Trump cùng nhiều tiểu bang đang tiến hành một chiến dịch nhắm vào hệ thống giáo dục công lập K-12
Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.