Hôm nay,  

Thư Từ Nhiệm

04/04/200300:00:00(Xem: 5149)
LTS. Cuộc chiến Iraq đã gây nhiều tranh luận không những khắp thế giới, mà cả trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ. Mặc dù bài sau đây không phản ảnh quan điểm VB, nhưng lại chứa đựng rất nhiều thông tin nên biết về cuộc tranh luận trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, và đặc biệt của các chuyên gia Bộ Ngoại Giao.
Lời người dịch: Thư từ nhiệm (Letter of Resignation) sau đây, gửi cho Ngoại Trưởng Colin Powell, của John Brady Kiesling, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, đã từng phục vụ tại tòa đại sứ Mỹ ở Tel Avis, Casablanca, Yerevan. Gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, Colin Powell. Đăng trên tạp chí Điểm Báo Nữu Ước (NYRB), số đề ngày 10 tháng Tư 2003.
*
Ngài Bộ Trưởng kính mến,
Tôi viết thư này tới Ngài, để xin từ bỏ nhiệm vụ của tôi là cố vấn chính trị tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Athens, thuộc Bộ Ngoại Giao, có hiệu lực kể từ ngày 7 tháng Ba. Tôi thật đau lòng khi làm điều này. Hành trang mà tôi mang theo từ lúc còn trẻ tới bây giờ khiến tôi không thể quên được một điều, rằng, mình phải đền đáp xứ sở một điều gì đó.
Làm nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đúng là một việc làm mơ ước. Tôi được trả công, để học và để hiểu biết về văn hóa, ngôn ngữ các nước. Để tạo mối thân quen trong số những nhà ngoại giao, những chính trị gia, những nhà học giả, và những nhà báo, và để cố gắng, tìm đủ mọi cách, nói cho họ hiểu rằng, quyền lợi của Hoa Kỳ và của họ, cơ bản mà nói, là trùng hợp. Lòng tin của tôi vào xứ sở của mình là một vũ khí mãnh liệt nhất, trong kho vũ khí ngoại giao của Hoa Kỳ.
Không thể tránh được rằng, trong hai chục năm trời làm việc tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tôi mỗi ngày một trở nên tinh tế và miệt thị (sophisticated and cynical) đối với những động cơ mang tính thư lại, ích kỷ, và chật hẹp, mà đôi khi, đã vẽ nên bộ dạng những chính sách [ngoại giao] của chúng ta. Con người vốn sao thì là vậy. Và tôi được khen thưởng, được thăng tiến trong nghề nghiệp, là vì hiểu được bản chất của con người. Nhưng, kể từ trước khi có cái chính phủ này, tôi nghĩ rằng, chuyện sau đây thật dễ ợt: rằng cứ ôm lấy những chính sách mà tổng thống của mình đề ra tức là ôm lấy những quyền lợi của dân chúng Hoa Kỳ và của thế giới. Tôi không còn tin như vậy nữa.
Những chính sách mà chúng ta bây giờ được yêu cầu tiến hành, không thích hợp, không chỉ với giá trị, mà còn với quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc hăm hở theo đuổi cuộc chiến với Iraq đã đưa chúng ta tới chỗ, làm phí phạm gia tài về tính chính đáng quốc tế, và đây là một võ khí có uy lực nhất, hiệu nghiệm nhất, cả về công lẫn thủ, của Hoa Kỳ, kể từ thời Woodrow Wilson. Chúng ta bắt đầu phá hủy mạng lưới hữu hiệu nhất, rộng lớn nhất của những liên hệ quốc tế mà thế giới trước đây chưa hề biết đến. Cứ đà này, sẽ chỉ đem tới bất ổn, hiểm nguy, và chẳng còn an ninh.
Việc hy sinh quyền lợi toàn cầu cho những chính sách nội địa, và cho quyền lợi của mình, thì cũng xưa như trái đất, và chắc chắn không phải Hoa Kỳ là quốc gia độc nhất trên thế giới vướng phải vấn đề này. Tuy nhiên, kể từ chiến tranh Việt Nam, chưa bao giờ nó lại làm phiền chúng ta như thế, ấy là tôi nói về trò bóp méo một cách hệ thống lương tri, sự hiểu biết, và trí thông minh, và trò ma nớp lôi kéo dư luận quần chúng Hoa Kỳ. Thảm kịch 11 tháng Chín, bi thương là thế, nhưng một khi bi thương lắng xuống, điều mà thảm kịch đó để lại cho chúng ta là: nó làm cho chúng ta mạnh hơn trước, lần đầu tiên, quây quần quanh chúng ta là một liên minh quốc tế rộng lớn cùng hợp tác, theo một đường lối có hoạch định đàng hoàng, nhằm chống lại chủ nghĩa khủng bố. Nhưng thay vì coi những thành tựu đó, như một cái vốn lận lưng, và cứ thế tiến lên, thêm thắt mãi ra, chính quyền này đã chọn lựa điều tệ hại nhất, đó là sử dụng khủng bố vào những mục tiêu chính trị mang tính nội địa, và coi nhóm al-Qaeda hầu như đã bị đánh bại, và tan rã ra khắp nơi, là đồng minh thư lại của nó. Chúng ta làm tràn lan nỗi khiếp sợ không tương xứng, và sự lầm lẫn không biết đâu mà lần, ở trong đầu mọi người. Chúng ta thoải mái, vô tư, coi Iraq và khủng bố là một.
Hậu quả - có lẽ phải nói động cơ - là biện minh cho việc phân phối, sử dụng sai lầm khá nhiều, tài sản công cộng vốn đang teo lại, cho việc binh đao, và làm yếu đi những bộ phận an toàn, bảo vệ công dân Hoa Kỳ khỏi bàn tay nặng nề của chính quyền. Mình làm hại mình, biến cố 11 tháng Chín không gây tổn hại nhiều cho kiến tạo xã hội Hoa Kỳ, so với những gì chúng ta làm cho chính chúng ta. Liệu chăng, triều đại Nga Hoàng vừa mới cáo chung đúng là thứ khuôn mẫu để chúng ta noi theo: một đế quốc vị kỷ, mê tín, đại bại, cuối cùng tự hủy diệt, nhân danh tình trạng từ chết đến bị thương hiện nay"

Chúng ta nên tự hỏi chính mình, tại làm sao mà thế giới chẳng thèm nghe thêm chúng ta, dù chỉ nửa lời, rằng cuộc chiến với Iraq là cần thiết. Hơn hai năm trời, chúng ta đã làm, quá đủ mọi chuyện, để khẳng định với "phe ta" trên thế giới, rằng quyền lợi hạn hẹp và vụ lợi của Hoa Kỳ chỉ là đồ bỏ, cần thì vứt vô thùng rác, nếu một khi đụng tới những giá trị rất đỗi thân thương của phe ta. Ngay cả khi không mắc mớ gì tới những mục đích của chúng ta, thì thái độ một lòng một dạ với phe ta cũng được nhắc tới. Chuyện Afghanistan còn nóng hổi, hẳn nhiên phe ta chẳng được hài lòng cho lắm, và họ sẽ tự hỏi, chúng ta tái thiết Trung Đông trên căn bản nào, những ai có hình ảnh của mình, và - hãy cứ nói đại ra ở đây - những ai có quyền xí phần, ở đó" Hay là chúng ta mù rồi, như Nga Xô đã mù ở Chechnya, như Isarel đã mù ở Vùng Đất Chiếm Đóng, và nếu không phải mù như họ, thì thôi vậy, mình nói mình nghe, chẳng lẽ trị bọn khủng bố, chỉ có mỗi một cách là dùng vũ lực hạng nặng, nện tới nện tấp, cho chúng chết hết không còn một mống" Sau hỗn loạn của một Iraq hậu chiến là những hỗn loạn ở Grozny và Ramallah, và phải là một người ngoại quốc can trường lắm mới kết hàng với những tiểu đảo ở vùng Thái Bình Dương (Micronesia), để mà cùng đi với chúng ta tới bất kỳ nơi đâu.
Chúng ta vẫn còn phe ta. Thứ tốt, thứ xịn. Tình bạn trung thành của họ thật đáng nể, và là vòng hoa choàng lên lâu đài của những giá trị về tinh thần và đạo đức mà chúng ta xây dựng từ trên một thế kỷ. Và những bạn bè thân thiết nhất với chúng ta, bảo cho chúng ta biết rằng, thật khó biện minh, nhưng thật dễ dàng tiên đoán, rằng cuộc chiến sẽ đầy hung hiểm, và sẽ khiến cho nước Mỹ rơi vào tình trạng thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn. Trung thành là phải có đi có lại, mới toại lòng nhau. Tại làm sao tổng thống của chúng ta lại dung thứ, và cho phép cứ thế mà làm, cái kiểu gặp gỡ, tiếp xúc, ngay ở trong số hàng ngũ những viên chức cao cấp nhất của chính phủ này, với bạn bè và đồng minh: ngạo mạn, khinh khi" Phải chăng câu nói "Mặc họ ghét ta, miễn họ sợ ta", là chân lý dẫn đường của chúng ta"
Tôi khẩn thiết yêu cầu Ngài hãy lắng nghe những bạn bè của Hoa Kỳ ở khắp năm châu bốn biển. Ngay cả ở đây, Hy Lạp, nơi mà tinh thần bài Mỹ theo kiểu Âu Châu được coi là hết thuốc chữa, chúng ta có nhiều bạn, và bạn thân, hơn là độc giả nhật báo Mỹ có thể tưởng tượng ra được. Ngay cả khi than phiền về tính ngạo mạn của Mỹ, người Hy Lạp vẫn hiểu rằng, thế giới là một nơi chốn khó khăn và nguy hiểm, và họ muốn có một hệ thống quốc tế mạnh, với Hoa Kỳ và Cộng Đồng Âu Châu (EU), như là những bằng hữu (partners) thân thiết. Khi bạn bè của chúng ta sợ chúng ta, hơn là sợ "cho" chúng ta, ấy là lúc có chuyện trục trặc cần phải coi lại. Và bây giờ, họ đang sợ. Ai làm cho họ tin tưởng rằng, Hoa Kỳ là, và vẫn luôn luôn là, một ngọn đèn pha soi sáng tự do, an ninh, và công lý của hành tinh này"
Thưa Ngài Bộ Trưởng,
Tôi xiết bao kính trọng Ngài, về tính tình, tư cách cũng như về khả năng, sự nhanh nhạy. Ngài đã giữ lại được, biết bao tin cậy của quốc tế đối với Hoa Kỳ, so với chính sách ngoại giao của chúng ta xứng đáng có, và còn cứu được một điều gì tích cực, khỏi những quá đáng của một chính phủ tự tung tự tác và chạy theo ý thức hệ.
Nhưng lòng trung thành của Ngài với Tổng Thống đi quá xa. Chúng ta căng, quá sức chịu đựng cũng như là giới hạn của nó, một hệ thống quốc tế mà chúng ta xây dựng với biết bao công của, một mạng lưới luật pháp, hiệp ước, tổ chức, và những giá trị cùng chia sẻ, chúng định giới hạn cho kẻ đồi đầu chúng ta, hữu hiệu hơn hẳn, so với cái "ràng" khả năng của Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ những quyền lợi của nó.
Tôi xin từ nhiệm, bởi vì đã cố gắng, nhưng thất bại, trong việc hòa giải lương tâm với khả năng của mình để đại diện chính phủ hiện nay của Hoa Kỳ. Tôi tin rằng, tiến trình dân chủ của chúng ta tự sửa sai cho chính nó, vào lúc tối hậu, và hy vọng rằng, trong một đường hướng nhỏ nhoi, tôi có thể đóng góp, từ phía bên ngoài, trong việc tạo vóc dáng những chính sách phục vụ tốt hơn cho an ninh và thịnh vượng của dân chúng Hoa Kỳ và của thế giới mà chúng ta chia sẻ.
Jennifer Tran chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership -- Six Studies in Wold Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành năm 2022, (trang 149-63). Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này. Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young có phát hiện một sự thật khác: Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại.
Một quy hoạch vùng cho hệ thống cao tốc đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước đã được phê duyệt, thực ra công trình giao thông này đã đến với dân chậm mất vài thập niên vì quy hoạch này đã sớm phải là một trong những ưu tiên cao nhất quốc gia...
Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.
✱ ĐS Martin: Tôi nói, tôi có cảm giác rằng nếu ông không có quyết định sớm, các tướng lãnh của ông sẽ yêu cầu ông ra đi - tôi đoán là ông ta sẽ sớm ra đi bằng cách này hay cách khác. Nếu các tướng lãnh của ông ta cho thêm vài ngày nữa - và rằng nếu ông không hành động sớm, các sự kiện sẽ ập đến với ông. ✱TT Thiệu: Cái bản văn hiệp định đó là bản văn hiệp định Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho cộng sản – tôi nói với ông Ngoại trưởng Kissinger lúc đó nếu như ông chấp nhận bản hiệp vì lý do riêng tư tôi không biết, nể nang nhau, đổi chác nhau, đem quyền lợi sinh mạng của dân tộc miền Nam này ra bán – chớ tôi là người Việt Nam, tôi không chấp nhận - Nếu tôi không có thiện chí đàm phán thì làm sao hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 được ký kết? Mặc dù thỏa thuận đó là một thỏa thuận què quặt, tôi phải chấp nhận nó. ✱ TT Thiệu: Người Mỹ... thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường...
Rõ ràng là các gen của quý vị và vợ/chồng của quý vị sẽ xác định giới tính của con cái quý vị. Nhưng quý vị có biết rằng gen xác định giới tính mà quý vị truyền lại cho con cái có thể đã được truyền lại từ ông của chúng không?
Có phải bạn rất đỗi ngạc nhiên về tiêu đề của bài viết này? Có thể bạn nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó không ổn trong câu chuyện này, bởi vì lịch sử về cuộc đời của đức Phật xưa nay không hề thấy nói đến chuyện đức Phật đi tới Châu Âu và Châu Phi. Bạn nghĩ không sai.
✱ CIA: Thiếu tướng Phan Văn Phú, đã gặp TT Thiệu ngày hôm qua (16.3.1975) và thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến cao nguyên miền Trung. ✱ Tướng Phú: Tổng Thống Thiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao nguyên Trung phần ✱ Tướng Trưởng: Lệnh của Tổng Thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn I vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn II vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới. ✱ TT Thiệu: Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. Chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ không thực hiện những thay thế như đã cam kết - vì thế, chiến cụ của chúng ta đã bị giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc.
Quá trình hoạt động căn bản của trí óc luân chuyển trong bốn giai đoạn: tiền ý thức (preconscious), ý thức (conscious), tiềm thức (subconscious), và vô thức (unconscious). Từ ngữ ‘ý thức’ có nguồn gốc từ ngôn ngữ Latin ‘biết’ và ‘nhận thức’. Ý thức là biết về nhận thức sự tồn tại và suy nghĩ của một người. Theo định nghĩa của tâm lý gia Sigmund Freud, ý thức chứa tất cả những suy nghĩ, ký ức, cảm xúc và mong muốn mà chúng ta nhận thức được tại bất kỳ thời điểm nào. Đây là quá trình xử lý tinh thần mà chúng ta có thể suy nghĩ và nói về nó một cách hợp lý.
Cựu Tổng Thống Jimmy Carter (Dân Chủ) nhậm chức vào ngày 20-1-1977, hai năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Người tiền nhiệm của ông là cố Tổng Thống Gerald Ford đã chứng kiến Saigon thất thủ trong cơn hỗn loạn. Carter là người trách nhiệm lèo lái nước Mỹ thời hậu chiến trong khi chiến tranh lạnh sôi động khắp nơi trên thế giới. Sau Việt Nam, năm nước khác lần lượt trở thành cộng sản, gia nhập vào trục Mặc Tư Khoa – Băc Kinh, như Lào (1975), Campuchia (1975), Angola (1975), Nicaragua (1979), Grenada (1979). Tuy nhiên, đợt bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản sau chiến tranh Việt Nam ít hơn đợt một với 12 nước đi theo XHCN xẩy ra sau khi Thế Chiến II chấm dứt.
Gửi ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL không được quyền có tiếng nói Gửi Nhóm Bạn Cửu Long Đây là bài thứ 2 viết về 48 năm cải tạo Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà nước CS Việt Nam đã và đang phá huỷ cả một vùng châu thổ phì nhiêu nhất Châu Á và cũng là của thế giới, và làm nghèo cả một đất nước ra sao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.