Hôm nay,  

Bụi

25/12/200200:00:00(Xem: 8455)
Những người từng ở Trại Cấm Sikiew, Thái Lan, chắc khó quên được Giáng Sinh 1991.
"Đây có thể sẽ là Giáng Sinh cuối cùng của các con tại Sikiew...", Cha người Thái cai quản địa phận nói với đám người tị nạn. Trại sẽ đóng cửa vào cuối năm tới theo như tin tức báo chí. Và ông cho tiền làm một lễ Giáng Sinh như ở ngoài đời tại nhà thờ ở khu C trong Trại.

Phía trước nhà thờ là một khu đất trống với những mỏm đá. Chiều chiều, dân tị nạn thường ra ngồi hóng mát. Bệnh viện "Y sĩ không biên giới" ở sát bên.
Gần cổng gác phía trong, có một tảng đá, lởm chởm những chữ: "Khu C không có vấn đề gì".
Sikiew gồm ba khu, chia cách nhau, và chia cách với thế giới bên ngoài bởi những hàng rào kẽm gai, những cổng gác, những tường cao. Nhà tù ở khoảng đất chũng, ngay dưới khu nhà dành cho nhân viên Bộ Nội Vụ Thái. Trước có những vòng kẽm gai bao quanh, sau được gỡ bỏ.

Em không nhớ đâu, lần đầu chúng ta gặp, những ngày dài ở Trại.
Đúng ra là lần đầu anh nhìn thấy em.
Khi được biết cơ quan ARC (American Refugee Committee) cần một thiện nguyện viên cho chương trình Sức khoẻ Tâm thần, vì muốn kiểm tra mớ tiếng Anh còn sót lại, anh đến gặp ông K. Trưởng Toán. Em và mấy người bạn ngồi quanh một chiếc bàn dài gần bên. Chắc anh nói tiếng Anh quá dở vì anh thấy em bĩu môi, quay đi, mắt thờ thẫn nhìn ra phía bên ngoài cửa sổ.
Chẳng phải cái bĩu môi, cái nhìn thờ thẫn, vẻ dửng dưng chẳng chờ mong bất cứ điều gì, nhưng dung nhan tàn tạ ở em làm anh giật mình. Anh tự nhủ thầm, đây là một thiếu nữ ngày xưa chắc chắn xinh đẹp lắm. Cái bĩu môi kia ngày nào chúa láu lỉnh, bây giờ thêm một chút chua chát, chán chường... Đây cũng là một con người vừa thoát ra khỏi quá khứ và chắc chắn không làm sao quên nổi.

- Viết như thế chỉ là miêu tả"
- Proust nói, những gì đã sống đều mong được sống lại. Miêu tả là làm sự vật sống lại, theo sự "sắp xếp" của người viết.
- Như vậy "cách" miêu tả rất quan trọng"
- Đó là quan niệm của Kafka, kỹ thuật chính là linh hồn của văn chương.

Anh như nhìn thấy chính anh.
Không, chẳng bao giờ anh muốn coi anh, em và tất cả chúng ta là những nạn nhân. Đó là niềm tự kiêu cuối cùng chúng ta còn giữ được để sống sót.
"Không phải như vậy đâu. Cái chế độ đó chẳng làm gì nổi em. Có khi em còn phải cám ơn nó, nhờ nó mà em gặp anh H. Ảnh trước là cảnh sát đặc biệt, sau 75 đi cải tạo, vợ bỏ. Rồi chúng em gặp nhau".
"Hồi nhỏ em mong ước trở thành ca sĩ, nhưng căn bệnh xóa sạch mọi ước mơ, kể cả ước mơ sẽ có người yêu, có chồng có con như tất cả những người đàn bà bình thường khác. Thầy biết không, anh H. có một đứa con với người vợ trước".
"Nhưng nếu không vì dung nhan tàn tạ, chắc gì Thầy đã nhận ra em""

Em ở bên C, anh bên A. Khu A gần hàng rào. Phía ngoài là trại tù giam giữ người Việt ở Thái nhưng không chịu sinh sống tại những địa phương do chính quyền chỉ định. Tuy là tù nhưng họ được tự do, thong thả hơn so với đám người tị nạn trong trại cấm. Nhờ vậy mà có chuyện mua đồ hàng rào. Trong ném tiền ra, ngoài ném đồ vô. Những vật dụng cho đời sống hàng ngày. Và rượu. Ma túy.
Anh còn nhớ có lần em nhờ anh mua giùm một đôi guốc. Mua được rồi, anh nhét kỹ trong người, đi qua trạm gác phân chia hai khu vực.
Bây giờ ở đây, khi gió, tuyết, và nỗi cô đơn lạnh cứng người, anh vẫn cảm thấy chút ấm áp của đôi guốc ngày nào. Và anh thèm sống lại cảm giác hoang mang, lo sợ khi đi ngang trạm gác.
Rồi những lần bên ngoài thương tình ném trái cây vào trong trại.

Có một truyền thuyết được truyền tụng bằng "kỹ thuật" rỉ tai giữa đám người tị nạn ở Sikiew. Vào những đêm trước khi xổ thanh lọc, những linh hồn người chết lang thang trên những mỏm đá phía trước giáo đường, nơi được dùng để công bố kết quả. Có người nói đó là linh hồn cô gái treo cổ tự tử sau khi rớt thanh lọc. Và cũng giống như những kẻ sát nhân không thể quên nơi xảy ra án mạng, cô vẫn quanh quẩn nơi chốn xưa, chờ đón những hồn ma mới. Một số khác dựa vào khoa học, coi đó là hồn ma của chính họ, ngày đêm bị tù túng, bèn tìm cách xuất khỏi xác.
"Thôi mà...", một người ra vẻ hiểu biết, "chỉ là mấy ông mãnh vô công rồi nghề, đêm mò ra kẽ đá bắt dế, ngày xúm nhau chơi trò con nít, thay vì ôm cái máy điện tử bấm liên hồi..."
Sau cùng có hai tay rủ nhau thức suốt đêm. Câu chuyện họ kể lại nghe cũng có lý...

"Hình như cái số của em là cứ bị mấy ông thầy thương. Anh H. cũng là thầy dậy em học đờn. Em đã chọn anh H., chính em chọn".
Vậy mà đã trên ba năm trời. Điều anh lo lắng nhất vẫn là căn bệnh của em. Những ngày cuối cùng ở Trại Cấm, chờ đợi kết quả thanh lọc, có mấy ai chắc chắn qua được, đó là những ngày anh thấy em bệnh nhất. Và cũng thấy em đẹp nhất. Cơn đau làm má em ửng đỏ, làm em đẹp một cách lười biếng, không thèm che đậy, buông thả trong cách ngồi, cách lơ đãng nhìn bài học, nhìn ông thầy. Khi em nghĩ, có thể em đang làm phiền bạn đồng học, hoặc cơn đau làm em hết chịu đựng nổi, em bỏ ra ngoài. Hình như anh thương em từ ngày đó. Thương theo nghĩa muốn chia sẻ cùng em một chút cơn đau. Khi em rời Trại Cấm, lên khu chuyển tiếp, chờ gặp phái đoàn, chờ ngày đi định cư, chỉ tới phút đó, anh mới nhìn rõ tình cảm của mình. Anh mừng thầm, vì chẳng bao giờ em biết được, và khi anh chạy theo em, chắc chắn là em đã đi rồi. Anh mặc cả cùng số mệnh, nếu anh qua được, em còn ở đó, anh sẽ nói...


Em nhớ lần đầu anh xin hôn em" Bữa đó, em đang ngồi ăn. Anh H. xong trước, bỏ ra ngoài tụ tập với đám bạn bè cũng lính tráng, sĩ quan ngày xưa. Em vừa ăn, vừa cười, vừa nói... Môi em bóng nhẫy, anh không thể dằn được, hỏi xin. Em láu lỉnh trả lời:
- Trời đánh còn tránh bữa ăn!
Chính cái tính tình thông minh, cái bĩu môi đầy gợi cảm, cái lối nói như buộc lấy nhau đó làm anh khốn khổ, khốn nạn vì em.
Ngay cả lá thư đầu em viết, anh cũng không thể ngờ được. Bữa đó, anh qua nhà, em nghiêm trang nói: "Thầy ngồi xuống đây, sửa giùm em bài tiếng Anh". Đâu có ngờ đó là những tình cảm, sự hối hận, cơn hoảng sợ vì trò đùa biến thành sự thật:
- What we are doing is not good... Cái điều chúng ta đang làm không tốt. Thầy đừng qua nhà em nhiều. Khi em đi rồi Thầy sẽ khổ. Em cũng nhớ Thầy vậy.

Họ nói, họ thấy hai ông tiên, râu tóc bạc trắng, mỗi ông cầm một cuốn sổ, ngồi đối diện trên hai mỏm đá. Bên dưới là những hồn ma, kẻ khóc lóc, kẻ năn nỉ... "Sự thật" nổ bùng ra, như thuốc súng. Mọi người đổ xô ra mân mê, khẩn cầu hai mỏm đá vô tri. Có thể vì quá bực mình, hoặc ái ngại, hoặc muốn cho cuộc phán xét tử sinh được công tâm, hai vị tiên đã cho xây những bức tường cao, che kín mọi bí ẩn.
Bây giờ nếu bạn không tin, xin mời tới Sikiew. Những bức tường giờ này vẫn còn, và được dùng vào việc giam tù, đóng dấu ấn Địa Ngục.
Trong những điều được nói về Sikiew, tất cả chỉ là bịa đặt, hoặc tô điểm. Duy có điều này: Nó thực sự là một địa ngục.

-Nước mắt cũng có hạn. Nơi này đổ ra nhiều thì nơi khác dè xẻn lại.
-Bạn muốn nói, đừng lạm dụng cảm xúc"
-Người ta chỉ đọc khi xúc động. Nhưng chớ bao giờ lạm dụng cảm xúc của độc giả cũng như của chính mình.


12 giờ đêm.
Không ai ngủ được. Có chăng chỉ là vật vờ, khắc khoải. Cứ như áy náy, xót xa một điều gì. Trời không nóng. Sikiew vào độ cuối năm thường se lạnh về đêm. Một số người ngày thường vốn dễ ngủ, vậy mà đêm nay cũng làm như bực mình vô cớ. Họ kéo nhau ra sau căn lều bầy một bàn trà, nhỏ to trò chuyện. Đám an ninh, vốn rất nghiêm với những vụ vi phạm 48 điều nội qui, đêm nay sao cũng như chùng xuống. Trong căn lều đèn đã tắt. Đám người quanh bàn trà thỉnh thoảng khum tay che ngọn đèn cầy chập choạng trước gió. Ngoài kia trăng lưỡi liềm treo chếch, ngược ngạo một bên trời, sau rặng cây. Trong căn lều có ai đó la ú ớ. Mọi người giật mình. Không phải. Báo động hoảng.
1 giờ sáng
Luồng gió lạnh tẩm đầy thứ sương sớm ẩm độc của miền núi theo nhau ùa xuống thung lũng Sikiew. Bóng đen sẫm của khối núi phía sau Trại đè nặng lên mớ lều lùn tịt. Ánh trăng mầu huyết dụ rùng mình giữa đám lá cây. Một con cú từ họng núi xa, nhắm căn lều vỗ cánh loạn xạ. Tiếng đập cánh làm một con chó hoang rướn cổ tru dài. Con cú đảo một vòng quanh lều, rúc lên một hồi. Một con mèo đen, từ một xó xỉnh nào, bỗng nhẩy xổ lên mặt bàn. Mấy chiếc ly giật mình kêu loảng xoảng. Ngọn đèn cầy chao nghiêng, rỏ xuống mặt bàn mấy giọt nến làm dấu.
Đột nhiên nhận ra sự hiện diện của đám người ngồi quanh bàn, con cú đảo về phía núi, đầu ngoái lại như tiếc rẻ. Câu chuyện đang từ đề tài muôn thuở, thanh lọc, bỗng chuyển qua điềm triệu. Một anh chàng trung niên, cựu sĩ quan, quả quyết chính mắt nhìn thấy một con cú khổng lồ trên nóc dinh Độc Lập, đúng đêm 30 tháng Tư năm nọ. Nó cứ rúc lên từng hồi. Mọi người rướn dài cổ, há hốc mồm... "Hỡi các anh em binh sĩ, sĩ quan, hãy buông súng đầu hàng!"
2 giờ sáng
Sương xuống nhiều hơn. Trời đất mù mù, ảo ảo, nhuộm mầu máu bầm của lưỡi trăng ma quái móc một nửa vào mái bệnh viện. Con cú trở lại. Sợ đám người, nó lựa một cành cây chết ngay bên dưới lưỡi trăng, rúc lên từng hồi. Đám người không ai bảo ai, lượm đá ném tới tấp. Không thèm để ý đến việc làm vô ích, con cú chờ đám người hết lăng xăng, một lúc sau mới rời cành cây, theo hướng núi bỏ đi.
3 giờ sáng
Anh chàng thanh niên chợt thức giấc, ngó lên căn lều, ngạc nhiên lẩm bẩm: "Quần áo ai treo lủng lẳng...". Bỗng anh giật bắn người, tỉnh hẳn.
Xác cô gái được gỡ xuống, đem cho mấy ông Y Sĩ Không Biên Giới.

Yêu tức là cầu chúc quên được nhau

Sikiew nổi tiếng trong đám người tị nạn vì bụi của nó.
Ngay những giấc mơ của họ cũng đầy bụi.
Chúng mình chỉ là hai hạt bụi lỡ thương nhau.
Người xưa thèm nắm áo đề thơ. Có lần anh mơ thấy em. Và sau đây là bài thơ nắm áo:
Chiều ngu ngơ phố thị...

(Khi chuyện cô gái treo cổ tự tử xẩy ra, anh và em đã rời Sikiew. Chắc em còn nhớ Dũng, học trò Pháp văn, bạn cờ, và cũng là người giúp đỡ anh rất nhiều trong những ngày ở Trại Cấm. Dũng đã ghi lại, gửi lên trại Transit cho anh, nhờ sửa rồi gửi cho các báo hải ngoại, hy vọng có chút tài liệu khi tái thanh lọc. Dũng rất mê văn chương, rất phục Garcia Marquez. Chi tiết con cú đậu trên nóc dinh Độc Lập là của Dũng. Cũng vậy, những đoạn tả cảnh địa ngục trong lúc chờ đón linh hồn nạn nhân. Anh chỉ sửa lời văn, thêm thắt một vài chi tiết. Chính chi tiết lý thú đặc chất Garcia Marquez về con cú đã gợi hứng cho anh, và anh đã viết thành một truyện ngắn, tác giả Nguyễn Anh Dũng, gởi đăng ở một tờ báo ở Úc, và một ở Canada. Hồi ở trại Transit, hình như em đã có đọc.
Lâu lắm, anh không còn nhận được tin của Dũng. Anh viết lại câu chuyện trên, thêm phần của anh và của em, như một kỷ niệm những ngày ở Trại. Anh mong một ngày nào em sẽ đọc, Dũng sẽ đọc, và biết rằng, chính anh ta, và bây giờ có em, là tác giả truyện ngắn này).
Nguyễn Quốc Trụ
(http://demthu.lonestar.org/~tinvan/unicode/index.html)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào thập niên 1970 kinh tế và dân số Ấn Độ và Trung Quốc tương đương với nhau nhưng rồi 30 năm sau đó tăng trưởng bên Tàu vượt xa Ấn. Nếu so sánh Trung Quốc với nhiều nước đang mở mang khác như Ai Cập, Brazil, Indonesia…kết quả đều tương tự. Câu hỏi đặt ra nơi đây tại sao tham nhũng ở Trung Quốc không cản trở tăng trưởng, mà trái lại nền kinh tế bốc hỏa nhanh chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại?
Vào đầu thế kỷ 20, xã hội Nga cũng tương tự như xã hội Pháp trước cuộc cách mạng 1789 vậy. Một mặt triều đình thối nát, công quỹ kiệt quệ. Mặt khác giáo hội Chính Thống Giáo cũng liên kết với vương quyền và giới quý tộc bóc lột người dân. Cuộc cách mạng lật đổ Nga Hoàng năm 1917 không phải hoàn toàn, hoặc chủ yếu, do người Cộng Sản Bolshevik. Cũng như cuộc cách mạng Pháp và những cuộc cách mạng khác, thành quả có được là do sự đóng góp của nhiều cá nhân và đảng phái khác nhau. Tuy nhiên tổ chức nào nghiêm túc, chặt chẽ và kỷ luật sẽ nắm được thế thượng phong...
Một thế hệ trí thức Việt Nam mới xuất hiện trong thập niên đầu thế kỷ XX, quyết tâm đấu tranh vì độc lập dân tộc và hiện đại hóa xã hội Việt Nam...
Vua nước Chiêm Thành là Chế Mân, người anh hùng chiến thắng cả được quân Nguyên Mông, thế mà lại phải đầu hàng trước nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Huyền Trân Công chúa. Ông liền dâng cả miền đất của Châu Ô, Châu Rí cho Việt Nam để làm quà sính lễ xin cưới Huyền Trân về làm vợ. Nàng hy sinh, giúp mở được con đường Nam Tiến. Vua Trần đổi tên hai châu thành Thuận Châu và Hóa Châu, gọi tắt là Thuận Hóa. Chữ 'Hóa' dần dần đọc trại đi thành "Huế."
Việt Nam và Trung Quốc sẽ là những nước dân chủ. Vấn đề không phải là sẽ dân chủ hay không, mà vấn đề là vào thời điểm nào. Chính các người Cộng Sản tại hai quốc gia này cũng phải công nhận tính bất khả vãn hồi của tiến trình dân chủ hóa đó...
Rất ít từ nào được liên kết một cách chặt chẽ với Henry Kissinger quá cố hơn là "hòa hoãn". Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong ngành ngoại giao vào đầu những năm 1900, khi vị đại sứ Pháp tại Đức đã cố gắng - và thất bại - để cải thiện mối quan hệ đang xấu đi của đất nước của ông với Berlin, và vào năm 1912, khi các nhà ngoại giao Anh cố gắng làm điều tương tự...
Năm 2022 Bắc Kinh phong tỏa nghiêm nhặc nhiều thành phố lớn (gồm cả Thượng Hải) khi đại dịch Vũ Hán bùng phát trở lại ở Trung Quốc , sang đến đầu năm 2023 lại đột ngột hủy bỏ mọi lệnh cấm. Thế giới cho rằng nền kinh tế Trung Quốc sẽ phát triển nhảy vọt sau một thời gian dài bị kềm hãm nhưng trong thực tế tăng trưởng trì trệ khác với mong đợi. Sau 30 năm tương đối dễ thở dân Tàu chợt nhớ mình vẫn sống ngột ngạt dưới chế độ toàn trị...
LTS. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH, là người được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác nhiều công việc trong những ngày tháng cuối, trước khi Sàigòn sụp đổ . Tại Hoa Kỳ, sau 1975, ông là tác giả nhiều cuốn sách được phổ biến rộng rãi như "Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập", "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", "Khi Đồng Minh Nhảy Vào", và sắp xuất bản cuốn BỨC TỬ VNCH - KISSINGER VÀ 8 THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM. Mời đọc bài viết mới nhất được tác giả gửi cho Việt Báo.
Tuy nhiên trong trường hợp các chế độ độc tài, thì câu trả lời rất phức tạp. Lý do là chế độc độc tài nào cũng “làm ra vẻ” dân chủ cả. Phương pháp chung của các chế độ độc tài là sử dụng một mô hình dân chủ, nhưng “làm bẩn” hay “làm ô uế” mô hình này, bằng một số thủ thuật “ma giáo”...
Tầm quan trọng của vấn đề nhân quyền đối với Phật giáo là hiển nhiên, vì trong những thập niên gần đây chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm. Giới lãnh đạo Phật giáo từ nhiều nước châu Á, như Đức Đạt Lai Lạt Ma (Tây Tạng), Aung San Suu Kyi (Myanmar), A. T. Ariyaratne (Sri Lanka), Maha Ghosananda (Kampuchea) và Sulak Sivaraksa (Thái Lan) đã nhiều lần bày tỏ mối quan tâm về các vấn đề xã hội và chính trị bằng cách sử dụng ngôn ngữ của nhân quyền. ..
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.