Hôm nay,  

Pilates: Môn Thể Dục Ra Đời Trong Nhà Tù

22/09/202300:00:00(Xem: 2272)

Pilates 1
Trại giam tập trung Knockaloe, Isle of Man, năm 1915. Trong thời kỳ cao điểm, kriegsfangenenlager (hay ‘trại tù nhân chiến tranh’) giam giữ hơn 23,000 thường dân. Hầu hết tù nhân là người Đức, một số là người gốc Áo-Hung và một số ít người Thổ Nhĩ Kỳ. Pilates bị giam ở trại số 4 ở phía trước trong hình. (Nguồn: Knockaloe Charitable Trust, Www.knockaloe.im)
 
Giữa những hình ảnh cánh đồng hoa anh túc và những chiến hào sũng nước trong ký ức chung về Thế Chiến I, ít ai để ý đến sự hiện diện của các trại tù binh chiến tranh ở vùng đảo British Isles. Nhưng trong suốt cuộc chiến, Anh đã giam giữ gần 116,000 người trong các trại tù binh trên khắp đất nước, từ Cung điện Alexandra ở London đến một trang trại cũ trên Đảo Isle of Man. Trong số đó có một võ sĩ đấm bốc và nghệ sĩ biểu diễn xiếc người Đức tên là Joseph Pilates.
 
Kẻ địch sống giữa chúng ta
 
Joseph Pilates sinh ra ở Mönchenladbach, Đức, vào năm 1883. Cũng giống như hàng ngàn thường dân Đức sống ở Anh trong giai đoạn đầu cuộc chiến, Pilates biết mình đã sống ở sai chỗ, sai thời điểm. Khi xung đột ngày càng tăng, tinh thần chống Đức ngày càng cao, người ta nảy sinh ngờ vực với tất cả người Đức đang sống và làm việc tại Anh. Vào năm 1914, cộng đồng người Đức sinh sống ở Anh có khoảng 57,000 người.
 
Ngày 4 tháng 8 năm 1914, trong vòng 24 tiếng sau khi tuyên chiến với Đức, chính phủ Anh đã ban hành Đạo luật Aliens Restrictions Act (Đạo Luật Hạn Chế Kẻ Ngoại Bang), trong đó xác định tất cả công dân Đức ở Anh là “kẻ địch ngoại bang.” Kết quả là, bất kỳ nam giới người Đức nào trong độ tuổi nhập ngũ được tìm thấy ở Anh đều có thể tự động bị bắt hoặc bị giam giữ vì được cho là mối đe dọa đối với người dân Anh.
 
Là một người đàn ông độc thân, trình độ tiếng Anh thì hạn chế, và thường rầy đây mai đó cùng rạp xiếc, Pilates thuộc diện đối tượng tình nghi cao. Khi sống trong một nhà trọ ở Blackpool, ông buộc phải tới đồn cảnh sát địa phương để ghi danh tình trạng “người ngoại bang.” Ngay sau đó, ông bị bắt và đưa đi thẩm vấn tại Sandhurst, trước khi bị chuyển đến các trại giam giữ tạm thời ở Jersey, rồi tới Lancaster.
  
Pilates là một trong những thường dân đầu tiên trở thành tù nhân chiến tranh ở Anh trong Thế Chiến I, rồi sau đó là hàng ngàn vụ bắt giữ khác. Vào tháng 5 năm 1915, một tàu ngầm Đức đã nã ngư lôi vào Lusitania, con tàu tuần dương hạng sang đang chở khách đi từ New York đến Liverpool. Vụ tấn công tai tiếng này đã giết chết hơn 1,000 người.
 
Cuộc tấn công vào thường dân vô tội đã làm tăng thêm nỗi sợ hãi về “kẻ địch giữa chúng ta.” Lusitania là một tàu dân sự, nhưng phe Đức cảm thấy hợp lý khi tấn công nó, vì con tàu đang chở khoảng 173 tấn đạn súng trường và đạn pháo. Nhưng cuộc tấn công vô cớ đã khiến công chúng Anh phẫn nộ và gây ra làn sóng bạo loạn bài ngoại chống lại các gia đình và công ty Đức ở các thành phố lớn như Liverpool, London và Manchester. Trước làn sóng áp lực từ dư luận, chính phủ Anh nhanh chóng mở rộng Aliens Restrictions Act, và đưa ra chính sách bất ngờ giam giữ hàng loạt đối với nam giới trong độ tuổi từ 17 đến 55 là “công dân ngoại bang từ nước địch.” Đến tháng 11 năm 1915, số lượng tù nhân là dân thường đã lên tới 32,000 người.
 
Phần lớn bị giam giữ tại Trại Tập Trung Knockaloe (Knockaloe Internment Camp) trên Đảo Isle of Man. Thời đỉnh cao, nơi này giam giữ tới 23,000 người. Pilates được chuyển đến Knockaloe vào ngày 12 tháng 9 năm 1915 và chính tại nơi đây, ông sáng tạo ra bộ môn thể dục độc đáo mang tên mình.
 
Suy nghĩ như loài vật
 
Từ các buồng giam hẹp và dài, có thể dễ dàng tưởng tượng trải nghiệm bị giam cầm trong thời chiến đã mang lại nguồn cảm hứng cho các bài tập phát triển thành bộ môn Pilates như thế nào.
 
Pilates 2
Cái nhìn cận cảnh hơn về các buồng giam tại Knockaloe, nơi các tù nhân nam giới người Đức trong độ tuổi từ 17 đến 55 bị giam giữ trong Thế Chiến I. Joseph Pilates bị đưa đến đây vào năm 1915. (Nguồn: Knockaloe Charitable Trust, Www.knockaloe.im)
 
Pilates 3
Quang cảnh bên trong một trong những buồng giam. Cuộc sống ở trại rất cơ bản, nhưng cũng có nhiều hình thức sinh soạt văn hóa – với dàn nhạc, câu lạc bộ thể thao, thư viện và nhiều nhóm nghệ sĩ khác nhau trong phạm vi 3 dặm xung quanh trại. (Nguồn: Knockaloe Charitable Trust, Www.knockaloe.im)
 
Trong một tài liệu hiếm hoi được Sports Illustrated xuất bản năm 1962 khi còn sống, Pilates đã tâm sự với nhà báo Robert Wernick về khoảng thời gian ông bị giam giữ ở Isle of Man. Cuộc sống trên đảo rất đơn điệu, Pilates quan sát thấy sự sa sút về tinh thần và thể chất của những người bạn tù. Họ “chẳng có gì để xem, ngoại trừ thỉnh thoảng sẽ có một con mèo đói meo nào đó đuổi bắt chim, chuột.” Trong mắt ông, sự ủ dột của tù nhân tương phản hoàn toàn với sự năng động của những con mèo hoang sống lảng vảng quanh trại giam.
 
Pilates đặt câu hỏi: “Tại sao những con mèo kia lại có thể trạng thái tốt như vậy, mắt sáng rỡ như vậy, trong khi con người thì ngày càng xanh xao, yếu ớt, ủ dột, thờ ơ, sẵn sàng bỏ cuộc nếu bị cảm lạnh hoặc té bong gân?”
 
Theo lời kể, Pilates bắt đầu quan sát những con mèo và phân tích chuyển động của chúng một cách kỹ càng. Ông nhận ra rằng những động tác giãn cơ liên tục là chìa khóa cho sức sống của chúng. Lấy cảm hứng từ những chuyển động này, ông bắt đầu phát triển một loạt các bài tập để kéo căng cơ bắp của con người và cũng đã thử áp dụng chúng trên các bạn tù của mình. Kết quả là, những người này đã thay đổi. Và thế là “Contrology,” tên gọi ban đầu của hệ thống bài tập này, đã ra đời.
 
Pilates 4
Việc tập thể dục bắt buộc phải giới hạn trong các môn thể thao chỉ chiếm diện tích nhỏ như đấm bốc hoặc thể dục dụng cụ. Các bộ môn này rất phổ biến ở trại, chẳng hạn như buổi biểu diễn thể dục dụng cụ trong hình, diễn ra vào năm 1915, không lâu sau khi Pilates đến. (Nguồn: Knockaloe Charitable Trust, Www.knockaloe.im)
 
Pilates 5
Quá trình Pilates quan sát đám mèo hoang kiếm ăn ở quanh trại được cho là nền tảng trong sự phát triển các bài tập của ông, được gọi là Contrology. Với sức dẻo dai, khả năng giữ thăng bằng cùng tư thế nghiêm khắc, nó có nhiều phẩm chất giống với thể dục dụng cụ, được rất nhiều người nhiệt tình tập theo ở Knockaloe. (Nguồn: Knockaloe Charitable Trust, Www.knockaloe.im)
 
Trong cuộc phỏng vấn, Pilates đã nhấn mạnh tính hiệu quả của Controlology. Thí dụ, ông nói với Wernick rằng những bạn tù đã tập luyện các bài tập của ông “khi chiến tranh kết thúc, họ có hình thể đẹp hơn so với trước chiến tranh, và khi đại dịch cúm quét qua tất cả các quốc gia đã tham chiến, chẳng có ai trong số họ bị nhiễm bệnh.”
 
Nếu xét trong thời kỳ đại dịch COVID-19, một bài tập thần kỳ giúp bảo vệ chúng ta khỏi nguy cơ bị nhiễm vi rút có thể sẽ bị nghi ngờ là “fake news”. Pilates đã không ngừng tìm cách quảng bá Contrology như một hệ thống tập luyện chữa bách bệnh, nhưng tất nhiên là không có bằng chứng nào.
 
‘Căn bệnh dây thép gai’ (Barbed-wire disease)
 
Dù không có bằng chứng, nhưng những mô tả của Pilates về bầu không khí trong trại giam là hoàn toàn chính xác và phù hợp với những chuyện kể về cuộc sống ở Knockaloe. Sau khi thăm khám sức khỏe ở các trại giam trong Thế Chiến I, bác sĩ người Thụy Sĩ Adolf Lukas Vischer đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh dây thép gai” để mô tả một hội chứng tâm thần ở các tù nhân chiến tranh sau khi bị giam giữ.
 
‘Căn bệnh dây thép gai’ xảy ra sau thời gian bị giam giữ lâu dài và gây ra sự buồn chán, lú lẫn, ý thức mờ mịt và chứng mất trí nhớ. Các triệu chứng này khớp với sự phản ánh của Pilates về trạng thái tinh thần của những người bạn tù xung quanh ông. Chiến tranh luôn mang lại những đau đớn và tổn thương không thể bù đắp. Nếu như những người ở tiền tuyến phải trải qua hội chứng “sốc đạn pháo”, thì những tù binh bị nhốt trong các trại giam sẽ phải đối mặt với ‘căn bệnh dây thép gai’.
 
Tù nhân được phép tham gia các hoạt động để giảm bớt gánh nặng tâm lý. Ca hát, biểu diễn và thể thao là hoạt động chính ở Knockaloe thời bấy giờ. Một bài báo xuất bản vào tháng 1 năm 1917 liệt kê Pilates là trọng tài của một trận đấu quyền anh, cũng xác nhận rằng ông đã áp dụng hệ thống các bài tập thể dục của mình. Tuy nhiên, ngoài số bằng chứng ít ỏi và những giai thoại do chính Pilates kể lại, hầu như chẳng còn chi tiết nào về khoảng thời gian sống tại Knockaloe của ông.
 
Alison Jones, chủ tịch của Knockaloe Charitable Trust, một tổ chức tình nguyện trên Đảo Isle of Man đang tìm cách lưu giữ những câu chuyện về các tù nhân trong trại giam này cho các thế hệ tương lai. Bà cho biết: “Có rất nhiều khả năng có thể xảy ra. Về sau, ông có kể đã làm việc tại một trong những bệnh viện trong trại giam và sử dụng các lò xo trên giường bệnh để phát triển những thiết bị Pilates đầu tiên. Tất cả những điều này nghe rất hợp lý, nhưng chúng tôi vẫn chưa tìm được bằng chứng cụ thể. Cần phải nhớ là có hơn 30,000 người từng được luân chuyển đến trại. Chúng tôi nhận được vô số phản hồi từ con cháu của những cựu tù nhân, họ có một số tài liệu hoặc những vật chứng mới muốn chia sẻ. Chỉ vì chúng ta chưa có thêm nhiều thông tin chi tiết và cụ thể về Pilates, không có nghĩa là nó có thể không xảy ra.”
 
Tiếp tục phát triển sau khi tự do
 
Sau khi được trả tự do vào tháng 3 năm 1919, Pilates được hồi hương về Đức ở tuổi 36. Những năm này, tập thể dục tiếp tục là công việc chính của ông; ông đã dành một thời gian để hỗ trợ cảnh sát Hanover trong việc rèn luyện thể chất và làm việc với các vũ công để giải quyết các vấn đề liên quan đến thể chất. Công việc này đã đưa ông tiếp xúc với vũ công nổi tiếng Hanya Holm, người sau này chuyển đến New York và trở thành 1 trong 4 nhà sáng lập lớn của bộ môn múa hiện đại Mỹ. Holm là một minh chứng tốt cho tầm nhìn của Pilates. Năm 1926, ông tham gia vào dòng người Châu Âu đến Đảo Ellis, New York, ôm ấp giấc mộng nhập cư.
 
Thời điểm này, Pilates đã ngoài bốn mươi và sẵn sàng bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Trên đường đến New York, ông gặp gỡ một phụ nữ người Đức tên là Clara Zuener, sau này trở thành người bạn đời lâu dài của Pilates, cả về tình cảm lẫn sự nghiệp. Họ cùng mở một studio quảng bá các nguyên tắc của Contrology cho một nhóm những người theo gót, một nhóm tuy không nhiều người nhưng trung thành và có sức ảnh hưởng.
 
Phòng “gym” đầu tiên của họ – Joseph H. Pilates Universal Gymnasium – mở cửa vào năm 1927 tại 939 Eighth Avenue và tồn tại hơn bốn mươi năm. Thời điểm đó, văn hóa tập thể dục chưa thịnh hành rộng rãi như ngày nay. Pilates chỉ trích nặng nề lối sống của dân Mỹ và tin rằng ông sẽ mang đến một liều thuốc giải độc đáo cho những áp lực và cám dỗ của cuộc sống hiện đại ở Hoa Kỳ. Những mối quan hệ trong giới khiêu vũ của ông đã giúp thu hút một lượng khách uy tín đến với studio, bao gồm cả biên đạo múa Martha Graham. Trong hai thập niên tiếp theo, Pilates cố gắng mở rộng triết lý tập luyện của mình ra ngoài giới khiêu vũ. Ông xuất bản hai tác phẩm: Your Health (1934) và Return to Life Through Contrology (1945) để quảng bá Controlology như một hệ thống tập luyện toàn diện cho tâm trí và cơ thể.
 
Pilates quyết tâm thuyết phục công chúng và các cơ sở y tế rằng Controlology là liều thuốc hiệu quả nhất. Với khuynh hướng chào hàng táo bạo, ông hứa hẹn rằng: “Return to Life sẽ giải thích đầy đủ cách quý vị có thể đạt được thành công xứng đáng: có được thể chất khỏe mạnh ngay tại nhà với chi phí chẳng đáng là bao.” Nhưng cho đến khi qua đời vào năm 1967, Pilates vẫn thất vọng vì các cơ sở y tế vẫn chưa chịu tiếp thu những ý tưởng mang tính cách mạng của ông.
 
John Howard Steel, một trong những học viên cuối cùng còn sống của Pilates và là tác giả của Caged Lion, một tác phẩm kể về tình bạn lạ thường của họ, có nói về những ám ảnh của Pilates.
 
Steel nói với tạp chí National Geographic: “Tất cả những gì ông ấy quan tâm là Controlology. Ông ấy bị ám ảnh với nó. Đó là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời ông. Đó là tất cả những gì ông có. Nên nhớ lúc ông đến New York là đã ngoài 40 tuổi, trong tay không có bất kỳ bằng chứng xác thực nào. Ông ấy cũng không phải là bác sĩ, và cũng không có công việc gì đáng kể. Ông đặt chân lên Đảo Ellis với suy nghĩ ‘Mình sẽ bắt đầu lại từ đầu.’”
 
Steel gặp Pilates lần đầu tiên vào năm 1963, đã qua những ngày vinh quang của một ngôi sao sáng của giới khiêu vũ. Lúc này Pilates đã ở độ tuổi tám mươi, nhưng vẫn có vóc dáng của “một võ sĩ quyền anh sẵn sàng lâm trận.” Dần dần, họ đã hình thành một tình cảm như ông nội và cháu trai; nhưng dù Pilates có dần thân thiết với Steel như thế nào, thì ông vẫn giữ lại một số điều của riêng mình.
 
Steel cho biết: “Ông ấy chưa bao giờ kể về bất cứ điều gì trong quá khứ. Giống như là đã xóa sổ nó ra khỏi cuộc đời vậy. Đối với Joe, quá khứ không tồn tại.”
 
Kết quả là, vẫn còn nhiều điều bí ẩn giữa một “Joe” mà Steel quen biết và một Joseph Pilates thật sự. Điều gì thực sự đã đưa ông đến Anh ngay trước thềm chiến tranh? Pilates là một nghệ sĩ biểu diễn xiếc thật sự hay có quan hệ với quân đội? Tiền đâu mà ông có thể tới New York? Liệu trước đó Pilates từng lập gia đình chưa?
 
Dù sự thật có là gì, thì Steel cũng đồng ý rằng trải nghiệm ở Knockaloe đã định hình nên một Pilates mãi mãi về sau. Trong Caged Lion, Steel kể lại những lần cùng Pilates đến Central Park Zoo:
 
“Joe sững sờ khi nhìn những con vật họ mèo to lớn bị nhốt trong lồng. Mỗi khi một con vật có hành động gì đó thu hút sự chú ý của ông, ông sẽ gõ nhẹ vào chân tôi và chỉ ra. Sau đó, ông sẽ giải thích cho tôi tại sao con vật đó lại làm những động tác đó và cách ông kết hợp bài tập đó vào Controlology… Tôi nhận ra ông đang quan sát chính bản thân mình trong cái lồng đó. Ông quá hiểu cảm giác bị nhốt trong lồng là như thế nào.”
 
Trong những năm 1970 và 80, các cựu học viên tiếp tục thực hành phương pháp của Pilates, điều chỉnh các bài tập lại cho phù hợp với các nhu cầu khác nhau, mở các studio bên ngoài New York và hiện đại hóa các thiết bị. Tuy nhiên, sự tiến hóa này không phải là một quá trình tuyến tính. Đến những năm 90, những tranh chấp về việc ai có thể sử dụng thương hiệu Pilates đã chia rẽ cộng đồng vốn đã ít ỏi, đỉnh điểm là một cuộc chiến pháp lý kết thúc vào tháng 10 năm 2000. Kết quả của vụ kiện đã cấm bất kỳ ai được độc quyền sử dụng thuật ngữ ‘Pilates,’ nghĩa là nó được dùng để chỉ một phương pháp tập thể dục mà bất cứ ai cũng có thể thực hành. Ngày nay, Pilates được hàng triệu người trên khắp thế giới tập luyện và đã bùng nổ thành một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ MK.
 
Suy ngẫm về di sản trường tồn của Pilates, Steel nhắc lại trải nghiệm của người hướng dẫn ông khi còn là tù nhân chiến tranh. Ông nói: “Ngày nay, phương pháp này đã thay đổi rất nhiều, nhưng nguồn gốc của nó vẫn là từ trại giam Knockaloe. Ngày qua ngày, Pilates nằm đó, cố gắng tìm ra cách sử dụng cơ thể của mình trong không gian chật hẹp. Ông đã tìm ra thứ gì đó hữu ích cho mọi người trong thế giới hiện đại, vì tất cả chúng ta đều sống một cuộc sống tù túng như nhau. Hầu hết mọi người hiện nay đều dành thời gian ngồi trong văn phòng, sống trong các tòa nhà chật ních. Có thể nói, điều mà ông ấy đã khám phá ra là cách để sống trong buồng giam của cuộc đời.”
 
Nguyên Hòa biên dịch
Nguồn: “The exercise phenomenon born in a prisoner-of-war camp” của Yosola Olorunshola, được đăng trên trang Nationalgeographic.co.uk.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đọc lịch sử, ta thấy bất cứ dòng họ vua chúa nước nào cũng thường trải qua một thời hưng thịnh ban đầu rồi dần dần suy tàn, nhường chỗ cho một triều đại mới. Những kẻ cướp ngôi hầu hết đều thuộc hạng bề tôi đã gây được thế lực đủ mạnh để lấn lướt nhà vua...
Dọc đường tôi đi bộ bên bờ kênh Delaware và Raritan, khoảng cuối tháng Tư có loại hoa màu tím nhạt nở từng chùm treo lúc lỉu trên những cành cây; thấp thì sà xuống mặt nước, cao thì cách mặt đất chừng chục mét. Hoa thuộc loại dây leo, nở lâu sắp tàn thì màu tím nhạt dần rồi biến thành màu trắng; khi chưa nở, nụ hoa trông giống như những hạt đậu màu tím. Có lẽ vì thế người ta gọi là cây đậu tía. Hoa còn có tên khác, đẹp hơn. Hoa Tử Đằng. Có người giải thích, Tử là màu tím; Đằng là chữ dùng chung cho loại dây leo.
Đó là một buổi sáng thứ Hai băng giá ở Matxcơva. Bên trong Viện Văn hóa Nhà nước của thành phố, Yuri Kot quyết tâm khơi ngọn lửa trong lớp. “Là người Nga nghĩa là gì?” ông gầm lên, nghiêng người về phía trước và nhìn chằm chằm vào các sinh viên. Kot – một người đàn ông 47 tuổi tóc vàng, trông giống một con gấu với những tuyên truyền yêu nước đã khiến ông trở thành khách mời nổi tiếng trên các chương trình truyền hình Nga – là trưởng khoa báo chí của học viện này.
Tìm được một nụ cười trên môi một người VN lưu vong vào tháng 4 hàng năm không dễ dàng. Cả 30 ngày của tháng tư, "những ngày mây xám giăng trên đỉnh trời", hình ảnh những người đã bỏ mình cho 20 năm tự do của miền Nam, những người mãi mãi nằm lại dưới đáy đại dương , không đặt chân được bến bờ tự do hiện về trong ký ức của chúng tôi rõ mồn một như mới hôm qua.
Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership -- Six Studies in Wold Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành năm 2022, (trang 149-63). Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này. Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young có phát hiện một sự thật khác: Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại.
Một quy hoạch vùng cho hệ thống cao tốc đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước đã được phê duyệt, thực ra công trình giao thông này đã đến với dân chậm mất vài thập niên vì quy hoạch này đã sớm phải là một trong những ưu tiên cao nhất quốc gia...
Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.
✱ ĐS Martin: Tôi nói, tôi có cảm giác rằng nếu ông không có quyết định sớm, các tướng lãnh của ông sẽ yêu cầu ông ra đi - tôi đoán là ông ta sẽ sớm ra đi bằng cách này hay cách khác. Nếu các tướng lãnh của ông ta cho thêm vài ngày nữa - và rằng nếu ông không hành động sớm, các sự kiện sẽ ập đến với ông. ✱TT Thiệu: Cái bản văn hiệp định đó là bản văn hiệp định Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho cộng sản – tôi nói với ông Ngoại trưởng Kissinger lúc đó nếu như ông chấp nhận bản hiệp vì lý do riêng tư tôi không biết, nể nang nhau, đổi chác nhau, đem quyền lợi sinh mạng của dân tộc miền Nam này ra bán – chớ tôi là người Việt Nam, tôi không chấp nhận - Nếu tôi không có thiện chí đàm phán thì làm sao hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 được ký kết? Mặc dù thỏa thuận đó là một thỏa thuận què quặt, tôi phải chấp nhận nó. ✱ TT Thiệu: Người Mỹ... thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường...
Rõ ràng là các gen của quý vị và vợ/chồng của quý vị sẽ xác định giới tính của con cái quý vị. Nhưng quý vị có biết rằng gen xác định giới tính mà quý vị truyền lại cho con cái có thể đã được truyền lại từ ông của chúng không?
Có phải bạn rất đỗi ngạc nhiên về tiêu đề của bài viết này? Có thể bạn nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó không ổn trong câu chuyện này, bởi vì lịch sử về cuộc đời của đức Phật xưa nay không hề thấy nói đến chuyện đức Phật đi tới Châu Âu và Châu Phi. Bạn nghĩ không sai.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.