Hôm nay,  

Putin Ngồi Trên Lửa

26/02/200500:00:00(Xem: 7449)
Chuyến Âu du của Tổng thống Mỹ đã kết thúc, với kết quả 1-0 trong trận đấu Bush-Putin. Tổng thống Nga có thể không ngồi được lâu vì chuyến đi…
Sau này, các sử gia có thể viết lại, rằng số phận của Chủ tịch Mikhail Gorbachev và Liên bang Xô viết không kết thúc với cuộc đảo chánh tháng Tám năm 1991 mà khởi sự sớm hơn, từ thượng đỉnh lạnh lẽo với Tổng thống Ronald Reagan tại Rekjavick của xứ Ireland trung lập vào tháng 10 năm 1986.
Cũng vậy, sau này, các sử gia có thể nhận định rằng số phận Tổng thống Vladimir Putin của Liên bang Nga đã được quyết định tại Bratislava của xứ Slovakia trung lập sau thượng đỉnh với Tổng thống George W. Bush vào ngày Thứ Năm 24 vừa rồi. Vấn đề là sau đó, Liên bang Nga sẽ đi về đâu"
Trên bề mặt, thượng đỉnh Bratislava có vẻ là một thành quả ngoại giao tốt đẹp cho đôi bên. Hai nhân vật Bush và Putin nói chuyện với sự tương kính và chân tình của hai người bạn, hai đối thủ ngang tài và thẳng thắn. Truyền thông Hoa Kỳ nhấn mạnh đến thành quả ấy: hai bên đồng ý với một số sáng kiến quốc tế, như phải hạn chế phố biến võ khí tàn sát, hoặc về một số hồ sơ nóng, như Bắc Hàn và Iran không nên chế tạo võ khí nguyên tử, hoặc nhu cầu vãn hồi hòa bình tại Trung Đông (hồ sơ Palestine và Israel). Về đề tài được truyền thông chú trọng là dân chủ hóa tại Nga, dư luận nhấn mạnh đến việc Tổng thống Bush nói thẳng quan điểm của mình trong khi Tổng thống Putin khẳng định là Liên bang Nga không thoái lui về chế độ độc tài và dứt khoát dân chủ hóa theo những điều kiện đặc thù của mình. Kết thúc thượng đỉnh, Tổng thống Bush hứa hẹn sẽ yểm trợ việc Liên bang Nga gia nhập tổ chức WTO và hai Tổng thống đồng ý sẽ gặp nhau nhiều lần trong năm nay, gần nhất là vào tháng Năm tại Moscow, nhân lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng của Liên xô chống Đức quốc xã.
Hôm sau, thông tấn xã Reurters còn loan tin Tổng thống Putin tỏ vẻ hài lòng về thượng đỉnh Bratislava.
Đó là trên bề mặt, và xuyên qua những tường thuật và nhận định của truyền thông.
Thực tế có lẽ lại không tốt đẹp như vậy.
Hai bên không đề cập đến Syria và việc Nga có thể cung cấp hỏa tiễn cho xứ này. Về hiểm họa nguyên tử tại Iran, hai bên không có sáng kiến gì cụ thể. Thượng đỉnh cũng không nói gì đến thế hợp tác Nga-Hoa (để chống Mỹ). Quan trọng nhất, Tổng thống Bush còn mặc nhiên khích động hoặc sách động dư luận - tại Nga và trong vùng ảnh hưởng của Nga, cụ thể là với xứ Belarus- về tiến trình dân chủ hóa, lần này với sự biểu đồng tình của Âu châu. (Chỉ riêng Thủ tướng Đức tỏ vẻ tế nhị hơn: trái với Anh hay Pháp, nước Đức muốn duy trì quan hệ tốt với Nga, như một vùng ảnh hưởng của mình, và Thủ tướng Schroeder tránh nặng lời với Putin.)
Nếu xét tới quan hệ Mỹ-Nga hoặc Bush-Putin về thực tế, ta thấy Bush đã đẩy Putin vào chân tường khi yêu cầu Nga phải trở thành một nước dân chủ như Âu châu. Hoặc hiện đại hóa bằng cách Tây phương hóa. Lý luận này phù hợp với chiến lược đối ngoại được ông Bush thông báo trong bài diễn văn nhậm chức và phúc trình về Tình hình Liên bang.
Nhưng, nhìn từ quan điểm quyền lợi của Nga hoặc vị trí của Putin, lời kêu gọi ấy là một sức ép nguy hiểm.
Dư luận Tây phương (Âu và Mỹ) cho rằng việc các nước Cộng hòa như Serbia, Georgia và gần đây nhất Ukraine đã tiến lên chế độ dân chủ mà không gây đổ máu là một cuộc cách mạng ("cách mạng tím" như tại Iraq, "cách mạng hồng" như tại Đông Âu, "cách mạng cam" như tại Ukraine, theo lối ví von của Bush). Đối với Putin và Liên bang Nga, đấy chỉ là sự bành trướng của Tây phương, là tiến trình Âu hóa vùng ảnh hưởng của Nga, dưới sự điều động và yểm trợ của Hoa Kỳ. Nói theo giọng Hà Nội, đấy là âm mưu "diễn biến hòa bình". Nhìn từ nước Nga ra thì trong vùng đất trước đây thuộc Liên bang Xô viết mà đòi thay đổi giới lãnh đạo độc tài và thân Nga với các lãnh tụ dân chủ và thân Tây phương hơn là một kế hoạch bành trướng thâm độc.

Ta có thể hiểu tâm lý ấy của Putin khi nghĩ đến trường hợp Việt Nam: lãnh đạo Hà Nội ngày nay cũng coi việc kêu gọi dân chủ và tổ chức bầu cử tự do là âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ, khiến họ mất hết cả quyền lẫn lợi. Dù ông Putin không đơn giản đến thế, nhiều nhân vật khác tại Nga có thể vẫn kết luận như vậy và họ không hài lòng về khả năng lãnh đạo của Putin. Chúng ta đang trở lại chuyện Reykjavick, hoặc "hội chứng Bratislava".
Thượng đỉnh Bratislava thực ra không làm thay đổi hay cải thiện quan hệ Mỹ-Nga nhưng đẩy Putin vào chân tường, trong khi sau lưng Putin, người ta đang nhìn thấy mầm mống nội lọan. Hoặc nguy cơ đảo chánh.
Đối với dân Nga bình thường, tiến trình cải cách tại Nga dưới các triều đại Yeltsin và Putin có khi chỉ là màn làm thịt doanh nghiệp nhà nước và đem lại lợi lộc cho một thiểu số, các đại tài phiệt và cựu đảng viên cộng sản. Một số khuynh hướng quốc gia và cả cộng sản còn cho rằng đấy là âm mưu bóc lột của tư bản Tây phương, làm nước Nga kiệt quệ và trở thành chư hầu của Mỹ. Nhiều tướng lãnh trong quân đội còn cho rằng Putin đã nhượng bộ Tây phương và Hoa Kỳ quá nhiều, chẳng hạn như việc phối hợp kiểm soát để ngăn ngừa phổ biến võ khí nguyên tử chỉ là âm mưu của Bush nhằm kiểm soát quân đội Nga, chứ sĩ quan Nga làm gì đặt chân qua Mỹ để xem võ khí nguyên tử tại Mỹ có thể bị đánh cắp hay bán lậu cho quân khủng bố hay các chế độ hung đồ"
Vì nhiều lý do khác nhau, nhiều phe nhóm Nga đều bất mãn với hiện trạng sau ba năm lãnh đạo của Putin. Và họ bắt đầu lên tiếng, bắt đầu tổ chức biểu tình phản đối, hoặc công khai ra thông cáo kêu gọi chống đối Putin.
Trong hoàn cảnh chung, về mặt quốc tế lẫn về hiện tình Nga, Tổng thống Bush có thể cần tới sự yểm trợ của Putin (để giải quyết các mối lo xuất phát từ Trung Quốc, Bắc Hàn, Iran, Syria hay các nhóm Hồi giáo cực đoan) và vì vậy, cần củng cố tư thế nội bộ của Putin bằng lời lẽ ôn hòa hơn, hoặc một vài nhượng bộ biểu kiến, để Tổng thống Nga trở về với một vài thành quả. Đằng này, ông Bush không lùi mà còn tiến mạnh hơn và quan hệ đôi bên chẳng những không được cải thiện nhờ thượng đỉnh mà có khi Putin còn bị tấn công từ sau lưng.
Vì sao lại như vậy" Chẳng lẽ chính quyền Bush không hiểu ra sự thể ấy tại Liên bang Nga"
Người ta không quên là nội các mới của Tổng thống Mỹ có một chuyên gia thượng thặng về Nga, đã từng góp phần làm Liên xô sụp đổ và làm Cố vấn An ninh cho Bush trong bốn năm liền. Đó là đương kim Ngoại trưởng Condoleezza Rice. Bà nắm vững tình hình Liên bang Nga hơn là chúng ta hay truyền thông nói chung có thể biết. Bên lề thượng đỉnh Bratislava, chính Condi Rice chứ không phải Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumfeld đã ký kết văn kiện chung với Tổng trưởng Quốc phòng Nga!
Chính quyền Bush có đặc tính là táo bạo và lỳ lợm thi hành những quyết định mà đa số cho là ngược đời và bất lợi. Cách ứng xử với Liên bang Nga và riêng với Putin có khi cũng thuộc loại quyết định tương tự. Vì vậy, tương lai chính trị của Vladimir Putin có khi đã được chính quyền cân nhắc và định đoạt.
Vấn đề là sau khi Gorbachev bị đảo chính hụt cũng vì bị các tướng lãnh và đảng viên cho là nhượng bộ Reagan quá nhiều thì đảng Cộng sản Nga tan rã, Liên xô sụp đổ và Liên bang Nga thành hình. Lần này, một nước Nga "hậu-Putin" sẽ ra sao, chưa ai biết rõ. Nếu có tò mò thì có lẽ phải theo dõi đường đi nước bước của Condi Rice hay các nhân vật "thân Mỹ" trong vùng ảnh hưởng của Liên bang Nga. Một đề tài thời sự cực kỳ hấp dẫn….

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.