Hôm nay,  

Xuống Núi

25/02/200500:00:00(Xem: 6364)
Xuống núi, hay nói một cách văn vẻ hơn là hạ sơn, thường để chỉ về sự kiện những nhà tu hành đã đắc đạo hoặc đạt đạo tới mức nào đó, có thể rời thạch động với mục đích đem sự chứng ngộ của mình mà chia xẻ cùng nhân gian. Nghĩa là, khi lên núi thì rất âm thầm nhưng khi xuống núi, các ngài đã là người đại diện Chư Phật, Chư Bồ Tát rao giảng lời Phật dạy và được thế nhân tôn kính.
Nhưng với môn thể thao leo núi thì ngược lại. Với những người chinh phục núi cao, đường lên núi mới chứng tỏ công lực; Và, tới được đỉnh núi là tột cùng vinh quang. Đường xuống núi lại hoàn toàn thầm lặng, bao nhiêu hãng truyền thanh truyền hình bám sát đường lên núi, nay đi đâu hết cả, chẳng ai buồn biết thêm về đường xuống núi của người hùng ra sao. Nhưng có can chi, vì cái mốc “Tới” của người leo núi đã được chứng minh rõ rệt bằng hình ảnh hân hoan ngạo nghễ trên đỉnh núi, giơ cả hai tay ra mà chào trời, chào mây, chào gió, chào trăng sao. Còn mốc “Đạt” của nhà tu hành thì hơi khó thấy khi quý ngài hạ sơn. Phải có thời gian năm, ba năm, có khi hàng chục năm, sau khi quý ngài hoằng pháp đó đây, may ra chúng sanh vô minh mới có thể tạm nhận ra quý ngài đã “Đạt”, đã “Đắc” thế nào khi quý ngài hạ sơn thuở nọ! Chẳng thế mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, vị Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng được cả thế giới tôn kính đã phải lên tiếng với tiểu đề “Tình thầy trò” trong cuốn “Từ Bi và kẻ thù” rằng, nhiều khi chúng ta cần một thời gian khá dài đến 10, hoặc 12 năm để quan sát đức hạnh và khả năng giảng dạy của giảng sư mới có thể biết vị đó có thực có khả năng và đạo hạnh cho ta đặt lòng tin và kính trọng hay không. Ngài còn nhắc, chính Đức Phật cũng dạy rõ điều này trong kinh điển, rằng ta không nên xem các vị thầy như thần thánh để tránh thất vọng khi sự thật không như vậy; vì một vị thầy tâm linh có nhiệm vụ truyền bá Phật pháp, hướng dẫn tinh thần kẻ khác mà lại phạm những lỗi lầm mà ông thường khuyên học trò nên tránh, là điều vô cùng tệ hại.
Đọc được những lời căn dặn trên, từ vị giáo chủ Phật giáo Tây Tạng đang được cả thế giới kính ngưỡng, hàng Phật tử sơ cơ như tôi bỗng vô cùng hoang mang. Tôi tin rằng, bất cứ người Phật tử nào mang một chút tín tâm mong cầu học đạo cũng cố gắng dọ dẫm tìm tới nơi mà họ “nghe đồn” là có vị thầy giảng pháp hay lắm. Khi đã tìm đến thì không phải chỉ nghe dăm ba lần là có thể khẳng định lời đồn đúng hay sai, vì khả năng của Phật tử lò dò tìm đạo cũng ví như học trò ngơ ngác buổi đầu cắp sách đến trường, chỉ biết, thầy thì phải giỏi là cái chắc, bởi không giỏi, sao được làm thầy" Đó là tâm trạng của phần đông những người đi tìm thầy. Lại nữa, hầu hết những điều thầy nói, thầy giảng là những điều trò chưa biết, chưa nghe, làm sao biết là thầy nói đúng hay sai trước khi trò có thời gian nghiền ngẫm, suy nghĩ về bài học" Do đó mà học trò muốn học chỉ còn cách cắm cúi tuân thủ lời thầy, hy vọng một mai sáng dạ. Chính cái thời gian “nhắm mắt nhắm mũi cắm cúi học” đó đã vô tình giúp thầy trò nhìn rõ nhau, tuy thầm lặng, tuy chậm rãi nhưng chính là thời gian quý báu để nhận thức bản chất của đối tượng. Chỉ có điều đáng thương là, nếu thời gian đó quá dài, có thể cần từ 10 đến 12 năm như Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói, “trò mới nhận ra thầy thực chưa phải minh-sư” thì e rằng niềm tin của Phật tử về ngôi “Tăng” sẽ lung lay như cây non trước bão tố; và điều quan trọng là, từ sự đau khổ ấy Phật tử có đứng dậy nổi để can đảm đi lại từ đầu con đường “Tầm sư học đạo” nữa hay không " Nếu không, thì phải làm sao " Nếu có, thì phải bắt đầu thế nào để tương đối tránh được thất bại như lần trước "
Với cái đầu ưa nghĩ quẩn như tôi, gặp sự nan giải này, chẳng lẽ ngồi khóc " Tôi bèn “thử” đặt mình vào trường hợp không may này xem sao. Tôi trải chiếu, nhắm mắt, ngồi bán già một lúc, chỉ nghĩ ra được giải pháp không mấy thông minh nhưng thực tế, dễ áp dụng và nhất là tiết kiệm được thời gian. Đó là, THẦY GIẢNG CÂU GÌ, TRÒ CỨ NHÌN NGAY BẢN THÂN THẦY Ở CÂU ĐÓ. Tạm thí dụ những câu thông thường nhất mà không người Phật tử nào không từng nghe, chẳng hạn như, thầy giảng về Từ Bi Hỷ Xả thì sau buổi giảng, thay vì thỉnh cuốn băng về nghe ngày nghe đêm, trò hãy chỉ lẳng lặng “nhìn” thầy, từ cách hoằng pháp tới sinh hoạt thường ngày thầy có thực sự thể hiện lòng vị tha (Từ Bi) cứu độ chúng sanh không, hay chỉ là vị kỷ" Thầy có mở rộng lòng ban vui và vui với cái vui của người (Hỷ) không" Thầy có buông bỏ được toan tính hơn thua, đố kỵ nghi hoặc (Xả) để tâm thanh tịnh đạt được hài hòa với mọi người mọi loài không" Hoặc khi thầy giảng về Tham Sân Si, thầy có biết “đủ” để đừng muốn thêm những cái không cần thiết (tham); thầy có nổi nóng (sân) khi gặp điều bất toại ý; thầy có mất tự chủ mà hành xử như người thiếu trí tuệ (si) không …v…v…

Tôi cũng hiểu lơ mơ rằng, nhiều khi “thầy nghiêm khắc thế mà không phải thế”. Thầy chỉ dùng “phương tiện nghiêm khắc” để giáo hóa trò mà thôi. Đó có thể là cách các thiền sư xử dụng, đôi khi mạnh bạo như gậy gộc, đánh đập, đôi khi cộc cằn như la hét, mắng chửi, xua đuổi …v…v…Nhưng qua những giai thoại Thiền mà tôi được nghe hoặc được đọc thì VỊ THIỀN SƯ CHỈ DÙNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN VŨ BÃO ĐÓ KHI BIẾT LÀ SỞ HỌC CỦA ĐỆ TỬ ĐÃ CHÍN MÙI, giáng cho một đòn mạnh, trò có thể ngộ. Khi đó thì đánh đập, la mắng đúng là từ bi, là phương tiện giúp trò đạt ngộ. Nhưng thường xuyên chửi rủa, la mắng khi trò chưa đủ khả năng tiếp nhận thì sự nghiêm khắc này, e rằng không phải là lòng từ bi ! Giai thoại thiền nổi tiếng mà ai học thiền cũng biết là câu chuyện “cầu pháp an tâm” của ngài Huệ Khả cầu đạo Tổ Đạt Ma. Khi nghe Tổ Đạt Ma đang thiền trên núi Thiếu Thất, ngài Huệ Khả đã trèo đèo lội suối tìm đến cửa động dưới trời giá băng, mưa tuyết, quỳ ngoài cửa 7 ngày 7 đêm, tuyết phủ gần kín người mà Tổ Đạt Ma chẳng hề đoái hoài. Vì muốn chứng tỏ quyết tâm cầu đạo, ngài Huệ Khả dùng đao chặt đứt cánh tay trái, cúng dường Tổ. Vậy mà Tổ Đạt Ma chỉ quay lại hỏi: “Ngươi dùng chút khổ hạnh nhỏ này để cầu việc chi "” Ngài Huệ Khải kính cẩn thưa rằng: “Bạch Hòa Thượng, con chỉ cầu một việc là xin Hòa thượng chỉ cho con pháp an tâm vì tâm con luôn luôn bất an”. Tổ Đạt Ma nhìn ngài Huệ Khả đăm đăm rồi bất chợt quát to lên, tưởng đến long trời lở đất: “Đem cái tâm bất an của ngươi ra đây, ta an cho”. Ngài Huệ Khả nghe Tổ quát lớn, không kịp suy nghĩ gì, chỉ vội vã tuân theo lời quát là quay lại tự tâm, tìm cái tâm bất an để trình Tổ; thì ngay khi nhìn lại tâm mình một cách sâu sắc, thuần khiết, mới nhận ra sự bất an vốn không thật, đó chỉ là niệm vọng tưởng. Đã là vọng mà bị nhìn thấy, vọng lập tức biến mất. Ngài Huệ Khả ngơ ngác thưa: “Bạch Hòa Thượng, cái tâm bất an của con đâu mất, con tìm không thấy, lấy không ra”. Lúc đó Tổ Đạt Ma mới dịu dàng bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay câu đó, ngài Huệ Khả đạt đại ngộ.
May mắn thay cho ngài Huệ Khả đã được Tổ Đạt Ma dùng tuệ nhãn thấy rõ sở học bền bỉ nhiều năm và lòng quyết tâm tìm giải thoát; chỉ kẹt nơi pháp chấp văn tự mà ngài Huệ Khả chưa nhận rõ Phật-tánh thanh tịnh của mình, vọng niệm mới “đánh lừa” ngài là tâm đạo bất an. Tiếng quát lớn của Tổ chính là giúp ngài Huệ Khả DỪNG VỌNG, HIỆN CHÂN. Tiếng quát trong phút giây đó là bàn tay từ bi đưa ra, kéo người cầu đạo khỏi bờ mê, tới bến giác.
(Nhưng, nếu cũng tiếng quát này, gặp hàng Phật tử như tôi là bay hồn bạt vía, chết giấc xuống chín tầng địa ngục còn chưa hiểu tại sao bị quát, huống chi là hiểu đạo!)
Vì biết căn cơ chúng sanh muôn người chẳng đồng như thế nên Đức Phật mới từ bi đặt ra tới tám mươi bốn ngàn pháp môn; xin quý thầy cũng từ bi nương căn chúng sanh mà dạy dỗ. Suốt 49 năm hoằng pháp, bao nhiêu kinh điển để lại cho hậu thế đều mô tả rõ ràng từng lời Phật nói, dù đôi khi lời nói đó chỉ là một câu ngắn ngủi, Phật cũng thể hiện đời sống mình qua câu đó, tuyệt đối không khác, không sai. Đệ tử theo Phật chỉ cần nhìn Phật là thấy ngay những BÀI-PHÁP-SỐNG, đầy linh động cho sự thực tập.
Ngày nay, nếu vị thầy giảng dạy điều gì mà bản thân các ngài thể hiện đúng như lời dạy, thì chính là các ngài đang mang những bài pháp ngàn xưa, từ Thế-Giới- Tích-Môn mà dựng thành những tấm gương ngay nơi Thế-Giới-Bản-Môn cho Phật tử hiện đời noi theo. Được như thế thì Phật tử ngày nay cũng có phước duyên hưởng hạnh phúc lớn lao không thua gì 1250 vị Tỳ-Kheo được theo Phật từng bước, như lời Tôn giả Anan thường mở đầu trên mỗi pho Kinh.
Diệu Trân
Tháng Hai 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.