Hôm nay,  

Cô Đã Trở Về

19/02/200500:00:00(Xem: 8139)
Tôi khai bút sớm vào một buổi chiều hoàng hôn 30 Tết. Nhìn cây mai vàng trước sân chùa năm nay lá nhiều hoa ít, nụ lưa thưa đứng một mình đìu hiu buồn không chịu nở. Chắc mai nhớ bạn là cành đào năm ngoái hoa đỏ thắm hồng trồng cạnh hàng rào, năm nay cây đào đã bị bứt gốc, chặt đi từ lúc nào. Những chậu lan, chậu cúc đâu còn đứng sắp hàng chào đón khách thập phương hai bên lối đi. Khu vườn nhỏ vắng hoa như vắng bàn tay chăm sóc của sư cô. Chỉ có tượng Phật Bà Quan Âm từ bi còn đó để hàng ngày chứng kiến và lắng nghe những niềm đau nỗi khổ của người thế gian.
Cây cỏ hình như cũng khoác một vẻ u sầu, ủ rũ với chủ nhân - Sư cô Như Ngọc - viện chủ chùa A Di Đà. Cô đang ốm nặng. Tôi đang viết về một sư cô đang chiến đấu với tử thần từng giây từng phút vào những ngày cuối năm, khi những tia nắng chiều hoàng hôn sắp tắt, cái lạnh cuối đông đang se sắt lòng người, thấm dần trong làn da, thớ thịt và mọi người ai ai cũng vội vã trở về mái nhà êm ấm chuẩn bị đón giao thừa.
Tôi và chị Hoa Thiện đăng ký…trực chùa vào ngày 30 tết. Cùng với sư cô Hoa Đạo và các Phật tử, mỗi người một tay lo chuẩn bị cúng Ngọ, cúng vong, dọn dẹp, trang trí bông đèn, hoa trái trên bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ,v.v… Chùa A Di Đà đã có một khuôn mặt mới, sạch sẽ, khang trang chờ đón Cô trở về…
Đây không phải là một bệnh nhân bình thường, Cô là một nữ tu, một khuôn mặt quen thuộc trong hàng giáo phẩm Phật Giáo tại Orange County, một cái tên không xa lạ với những Phật tử thường xuyên đi chùa, một người phụ nữ hình như được sinh ra để làm việc xã hội không kém gì nam giới, một sư cô làm Phật sự quên mình, không ngơi nghỉ, một trái tim dễ xúc động bằng những giọt nước mắt trước những sự mất mát lớn, một tâm hồn văn học, một cây viết thường xuyên cho tờ Phật Giáo Việt Nam….
Tôi không nhớ rõ tôi có duyên với sư cô và chùa A Di Đà vào năm nào. Chỉ nhớ trong một chuyến đi Lộc Uyển, tôi mượn chị Lệ Hoa $20 mua chiếc áo tràng. Tôi hỏi địa chỉ để trả tiền chị, chị dặn dò đến chùa A Di Đà vào mỗi tối thứ Năm có tụng kinh, chị có mặt đều đặn ở đó. Chị Lệ Hoa là nhịp cầu nối liền giữa tôi và ngôi chùa.
Ngày đó, chùa A Di Đà còn nhỏ hẹp, sơ sài và bừa bộn lắm. Các bác Phật tử thuần thành và nòng cốt khoảng hơn 10 người, đa số là các bác lớn tuổi như bác Mười, bác Hòa, bác Sáu, bác Diệu Tuệ, bác Hoa Đạo…lứa tuổi sồn sồn có chị Hoa Thiện, chị Yến, chị Lệ Hoa, trẻ hơn có Mỹ Anh, Mỹ Hương,… Chùa nhỏ mà vui, không câu nệ, không hình thức, ai cũng lấy cái tình người và tâm đạo đối đãi với nhau. Sau buổi tụng kinh là một màn ăn uống ì sèo, hôm thì cháo khuya, hôm thì bún riêu, thức ăn trong chùa lúc nào cũng dư thừa cho Phật tử nào lỡ bước đến chùa, sư cô lúc nào cũng chu đáo đầy đặn cho những bữa ăn như thế.
Hồi đó, hai chữ hồi đó mới đây mà ngỡ như xa lắm. Các bác còn khỏe, trái tim của chị Lệ Hoa còn đập bình thường đều đặn nên chị tình nguyện làm tài xế đưa đón các bác. Bây giờ, cái vô thường đến mỗi giây, mỗi phút với tất cả mọi người, bác thì đi xa với con, bác thì đau yếu không đến được, bác thì không ai đưa đón, nhân sự càng ngày càng rơi rụng dần. Đó cũng là lúc chùa có thêm nhiều Phật tử mới, sư cô sửa sang lại chánh điện, phòng khách, garage, landscape, ngôi chùa rộng hơn và có một mặt tiền khang trang hơn. Sư cô làm Phật tử tích cực hơn, các thầy, sư cô từ xa về giảng pháp trong những ngày vía lớn, gia đình Phật tử Thiên Ân có chỗ rộng rãi thoải mái hơn để sinh hoạt. Quen thuộc và nổi bật nhất vẫn là hình ảnh cô lúc nào cũng rộn ràng, nhanh nhẹn, tại nhà bếp, cô lo những bữa ăn cho Ôn và các Thầy, tại phòng khách, cô tiếp đón, dặn dò các Phật tử…Trước những công việc Phật sự như thế, ai cũng đều nhắc nhở cô những bữa ăn bị…bỏ quên. Rất ít khi cô có một bữa ăn trọn vẹn, đầy đủ, chu đáo cho cô vì lúc nào cô cũng bận rộn, chạy đua với thời gian, công việc và lo cho người khác.
Tôi được tham dự nhiều chuyến đi Tour hành hương với cô. Có những chuyến đi sáng chiều về trong ngày như tour hành hương thập tự đầu năm, có những chuyến kéo dài một tuần như những chuyến thăm các chùa Bắc Cali Vancouver, các chuyến dự lễ lội Quan Âm ở Texas,v.v…Hình ảnh cô như một nữ tướng ngồi ở ghế đầu tiên sau người tài xế, hướng dẫn, một đoàn quân đa số là các bác lớn tuổi tham dự một cuộc hành quân mà ngày trở về Cali ai nay đều bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Mệt mà vui vì có quá nhiều kỷ niệm vui với cô trong chuyến hành hương.

Tôi nhớ mãi có một lần trong chuyến hành hương thăm Yosemite, trên đường về phải vượt qua các đoạn đường núi quanh co, ngoằn ngoèo, độ dốc càng ngày càng cao, trời tối sầm, mịt mù sương khói, tuyết rơi lả tả ngoài trời, cô nhắc nhở mọi người giữ chánh niệm, chỉ yên lặng và tụng kinh. Ông tài xế nhiều lần muốn ngừng xe để gắn lại sợi giây xích trong bánh xe nhưng tuyết rơi dầy quá, ông tiếp tục lái vượt qua các đoạn đường trơn trượt và dốc cao. Mãi đến khi trời tối, ghé vào tiệm Mac Donald nghỉ ngơi, tôi nói về những cái bánh xe không gắn những sợi giây xích an toàn, cô nhìn tôi mỉm cười nói : "Diệu Loan yên tâm đi mình đi hành hương luôn luôn có long thần hộ pháp và Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, mình được mọi sự bình an". Cô có một niềm tin tuyệt đối vào sự linh thiêng và cảm ứng của Phật Bà Quan Âm, niềm tin ấy sáng ngời và long lanh trong ánh mắt cô. Cô rất bình tĩnh và cứng cỏi trong những trường hợp như vậy trong khi tôi ngồi trên xe mà hồi hộp tim đập mạnh, chỉ biết nhắm mắt và niệm thầm Quan Thế Âm Bồ Tát theo lời hướng dẫn của cô.
Cô rất ít khi ngồi yên vì bản tính của cô là type người tạm gọi là dynamic, ưa hoạt động. Cô lái xe băng băng với cái xe cà rịch cà tàng trước đây bao phen đã làm cho cô lỡ việc. Với cái xe mới, Cô lặn lội lên Los chăm lo sức khỏe cho ôn, cô đi thăm người bệnh, người chết, cô đi tụng niệm cầu an, cầu siêu. Khi thấy cô đi bác sĩ, ai nhắc nhở đến sức khỏe, cô mỉm cười cô biết mà, cô lo được chỉ vài viên thuốc Contact, cô khỏe lại, vẫn làm việc xông xáo, đề lại, tổ chức, sắp xếp công kia việc nọ… Bệnh tật hình như cũng "chừa" cô ra, hay…sợ cô" Các Phật tử nhắc nhở cô về các bữa ăn, thuốc men, thời tiết. Cô cười cười "Không sao đâu!" Cô khỏe thật thế rồi một ngày nọ Cô phải vào bệnh viện.
Các Phật tử thân cận đã đưa Cô vào bệnh viện Fountain Valley. Lần này, Cô không thể từ chối được vì cô không còn sức để chống đỡ được nữa. Bệnh thổ tả làm cho cô gầy sút người vì tuần lễ cô có ăn uống được gì đâu. Cô lại ăn chay. Trong người cô được nuôi dưỡng bằng giây nước biển. Các bác sĩ thử máu, làm test liên tục vẫn chưa tìm được bệnh. Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê, có lúc cô tỉnh, Cô nhận ra Ôn và các Phật tử, nước mắt cô long lanh chảy dài trên đôi má hóp. Tôi và các chị Phật tử vào thăm, côn còn tỉnh và tâm sự: "Lúc này nằm trên giường bệnh mới thấy không có sức khỏe thì không làm gì được cả." Chùa A Di Đà cần cô trở về để sửa soạn đón Tết Ất Dậu, các tour hành hương đang cần cô hướng dẫn. Các Phật tử an ủi cô và động viên cô tịnh dưỡng, chùa đã có mọi người lo từ A đến Z, mọi người nhắc cô niệm Phật, các Thầy, các Sư Cô và Phật tử tụng kinh hàng tối cầu an cho cô.
Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê. Bệnh cô càng ngày càng trở nặng, các bác sĩ vẫn chưa xác định được đó là bệnh gì dù đã hơn 10 ngày. Trong phòng chăm sóc đặc biệt, trên người cô là các sợi dây nước biển, ống thở, ống đổ thức ăn, ống tiếp máu…Các Thầy, các Sư cô và Phật tử vào thăm cô không tránh khỏi những giọt nước mắt cảm thương. Các bác sĩ đã tìm ra được bệnh và quyết định tiếp máu đồng thời dùng chemotherapy, trị liệu bằng hóa chất sau khi đã xác định được bệnh của cô.
Khi tôi viết những dòng này, sư cô đã mở mắt và tỉnh lại đôi chút. Cô đã bập bẹ các chữ "A Di Đà Phật" mặc dù chữ Phật còn ngọng nghịu, khó khăn trên đôi môi cô. Cô tỉnh lại là một niềm vui lớn cho tất cả các Phật tử quan tâm đến sức khỏe của cô từ trước tết cho đến bây giờ. Mạng sống của tất cả chúng ta đều vô thường, cũng như ai cũng trải qua cầu sinh tử. Cô đang chiến đấu với tử thần và từ cõi chết, cô đã trở về. Cô ơi, năm nay cô 62 tuổi đời, có một bài hát nổi tiếng của thế gian "Sáu mươi năm cuộc đời", 60 là một con số mà mỗi chúng ta phải quan tâm và chịu nhận, còn thừa lại là phần "bonus" của cuộc đời cho chúng ta đó. Cô đang được hồi sinh và từ từ sẽ hồi phục nhưng cô còn đủ và kịp thời gian để chuẩn bị cho mình một sinh hoạt mới, thói quen mới như cô phải…"nice" với sức khỏe của mình, cô phải "ke" các bữa ăn, cô phải bớt làm việc và nếu làm việc thì chỉ làm việc vừa sức, đừng "abuse" sức khỏe nữa, bởi vì nếu thân không khỏe thì không có phương tiện để mình tu mặc dù biết rằng một ngày nào đó cái thân rồi cũng vô thường.
Mỗi tối, các Thầy, các sư cô, các Phật tử đều ít nhiều dành những lời kinh cầu an cho cô nhân dịp đầu năm. Cô đã trở về, nói đúng hơn thần thức của cô đã trở về sau những ngày lang thang đâu đó. Cô có nhớ gì không trong "chuyến đi" này" Những kinh nghiệm của cô, khi nào cô khỏe, cô nhớ lại và kể cho các Phật tử nghe cô đã đi đâu, gặp ai, làm gì, thấy gì trong những ngày mê man ấy" Dù sao đi nữa…Cô đã trở về. Cuộc chiến đấu với bệnh tật rồi liên tục và quyết liệt nhưng Diệu Lan tin rằng Cô là một phụ nữ đầy nghị lực, cô sẽ không lùi bước trước căn bệnh dù có hiểm nghèo. Chung quanh cô và trên hết, những tiếng kinh cầu nguyện "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát" của các Phật tử luôn luôn bên cạnh cô sẽ vang lên hàng đêm trong các thời công phu tối: - Cô đã trở về.
Kính tặng Sư Cô Như Ngọc
Viện chủ Chùa A Di Đà
Cali ngày 14 tháng 2 năm 2005
Diệu Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.