Hôm nay,  

Cô Đã Trở Về

19/02/200500:00:00(Xem: 7959)
Tôi khai bút sớm vào một buổi chiều hoàng hôn 30 Tết. Nhìn cây mai vàng trước sân chùa năm nay lá nhiều hoa ít, nụ lưa thưa đứng một mình đìu hiu buồn không chịu nở. Chắc mai nhớ bạn là cành đào năm ngoái hoa đỏ thắm hồng trồng cạnh hàng rào, năm nay cây đào đã bị bứt gốc, chặt đi từ lúc nào. Những chậu lan, chậu cúc đâu còn đứng sắp hàng chào đón khách thập phương hai bên lối đi. Khu vườn nhỏ vắng hoa như vắng bàn tay chăm sóc của sư cô. Chỉ có tượng Phật Bà Quan Âm từ bi còn đó để hàng ngày chứng kiến và lắng nghe những niềm đau nỗi khổ của người thế gian.
Cây cỏ hình như cũng khoác một vẻ u sầu, ủ rũ với chủ nhân - Sư cô Như Ngọc - viện chủ chùa A Di Đà. Cô đang ốm nặng. Tôi đang viết về một sư cô đang chiến đấu với tử thần từng giây từng phút vào những ngày cuối năm, khi những tia nắng chiều hoàng hôn sắp tắt, cái lạnh cuối đông đang se sắt lòng người, thấm dần trong làn da, thớ thịt và mọi người ai ai cũng vội vã trở về mái nhà êm ấm chuẩn bị đón giao thừa.
Tôi và chị Hoa Thiện đăng ký…trực chùa vào ngày 30 tết. Cùng với sư cô Hoa Đạo và các Phật tử, mỗi người một tay lo chuẩn bị cúng Ngọ, cúng vong, dọn dẹp, trang trí bông đèn, hoa trái trên bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ,v.v… Chùa A Di Đà đã có một khuôn mặt mới, sạch sẽ, khang trang chờ đón Cô trở về…
Đây không phải là một bệnh nhân bình thường, Cô là một nữ tu, một khuôn mặt quen thuộc trong hàng giáo phẩm Phật Giáo tại Orange County, một cái tên không xa lạ với những Phật tử thường xuyên đi chùa, một người phụ nữ hình như được sinh ra để làm việc xã hội không kém gì nam giới, một sư cô làm Phật sự quên mình, không ngơi nghỉ, một trái tim dễ xúc động bằng những giọt nước mắt trước những sự mất mát lớn, một tâm hồn văn học, một cây viết thường xuyên cho tờ Phật Giáo Việt Nam….
Tôi không nhớ rõ tôi có duyên với sư cô và chùa A Di Đà vào năm nào. Chỉ nhớ trong một chuyến đi Lộc Uyển, tôi mượn chị Lệ Hoa $20 mua chiếc áo tràng. Tôi hỏi địa chỉ để trả tiền chị, chị dặn dò đến chùa A Di Đà vào mỗi tối thứ Năm có tụng kinh, chị có mặt đều đặn ở đó. Chị Lệ Hoa là nhịp cầu nối liền giữa tôi và ngôi chùa.
Ngày đó, chùa A Di Đà còn nhỏ hẹp, sơ sài và bừa bộn lắm. Các bác Phật tử thuần thành và nòng cốt khoảng hơn 10 người, đa số là các bác lớn tuổi như bác Mười, bác Hòa, bác Sáu, bác Diệu Tuệ, bác Hoa Đạo…lứa tuổi sồn sồn có chị Hoa Thiện, chị Yến, chị Lệ Hoa, trẻ hơn có Mỹ Anh, Mỹ Hương,… Chùa nhỏ mà vui, không câu nệ, không hình thức, ai cũng lấy cái tình người và tâm đạo đối đãi với nhau. Sau buổi tụng kinh là một màn ăn uống ì sèo, hôm thì cháo khuya, hôm thì bún riêu, thức ăn trong chùa lúc nào cũng dư thừa cho Phật tử nào lỡ bước đến chùa, sư cô lúc nào cũng chu đáo đầy đặn cho những bữa ăn như thế.
Hồi đó, hai chữ hồi đó mới đây mà ngỡ như xa lắm. Các bác còn khỏe, trái tim của chị Lệ Hoa còn đập bình thường đều đặn nên chị tình nguyện làm tài xế đưa đón các bác. Bây giờ, cái vô thường đến mỗi giây, mỗi phút với tất cả mọi người, bác thì đi xa với con, bác thì đau yếu không đến được, bác thì không ai đưa đón, nhân sự càng ngày càng rơi rụng dần. Đó cũng là lúc chùa có thêm nhiều Phật tử mới, sư cô sửa sang lại chánh điện, phòng khách, garage, landscape, ngôi chùa rộng hơn và có một mặt tiền khang trang hơn. Sư cô làm Phật tử tích cực hơn, các thầy, sư cô từ xa về giảng pháp trong những ngày vía lớn, gia đình Phật tử Thiên Ân có chỗ rộng rãi thoải mái hơn để sinh hoạt. Quen thuộc và nổi bật nhất vẫn là hình ảnh cô lúc nào cũng rộn ràng, nhanh nhẹn, tại nhà bếp, cô lo những bữa ăn cho Ôn và các Thầy, tại phòng khách, cô tiếp đón, dặn dò các Phật tử…Trước những công việc Phật sự như thế, ai cũng đều nhắc nhở cô những bữa ăn bị…bỏ quên. Rất ít khi cô có một bữa ăn trọn vẹn, đầy đủ, chu đáo cho cô vì lúc nào cô cũng bận rộn, chạy đua với thời gian, công việc và lo cho người khác.
Tôi được tham dự nhiều chuyến đi Tour hành hương với cô. Có những chuyến đi sáng chiều về trong ngày như tour hành hương thập tự đầu năm, có những chuyến kéo dài một tuần như những chuyến thăm các chùa Bắc Cali Vancouver, các chuyến dự lễ lội Quan Âm ở Texas,v.v…Hình ảnh cô như một nữ tướng ngồi ở ghế đầu tiên sau người tài xế, hướng dẫn, một đoàn quân đa số là các bác lớn tuổi tham dự một cuộc hành quân mà ngày trở về Cali ai nay đều bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Mệt mà vui vì có quá nhiều kỷ niệm vui với cô trong chuyến hành hương.

Tôi nhớ mãi có một lần trong chuyến hành hương thăm Yosemite, trên đường về phải vượt qua các đoạn đường núi quanh co, ngoằn ngoèo, độ dốc càng ngày càng cao, trời tối sầm, mịt mù sương khói, tuyết rơi lả tả ngoài trời, cô nhắc nhở mọi người giữ chánh niệm, chỉ yên lặng và tụng kinh. Ông tài xế nhiều lần muốn ngừng xe để gắn lại sợi giây xích trong bánh xe nhưng tuyết rơi dầy quá, ông tiếp tục lái vượt qua các đoạn đường trơn trượt và dốc cao. Mãi đến khi trời tối, ghé vào tiệm Mac Donald nghỉ ngơi, tôi nói về những cái bánh xe không gắn những sợi giây xích an toàn, cô nhìn tôi mỉm cười nói : "Diệu Loan yên tâm đi mình đi hành hương luôn luôn có long thần hộ pháp và Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, mình được mọi sự bình an". Cô có một niềm tin tuyệt đối vào sự linh thiêng và cảm ứng của Phật Bà Quan Âm, niềm tin ấy sáng ngời và long lanh trong ánh mắt cô. Cô rất bình tĩnh và cứng cỏi trong những trường hợp như vậy trong khi tôi ngồi trên xe mà hồi hộp tim đập mạnh, chỉ biết nhắm mắt và niệm thầm Quan Thế Âm Bồ Tát theo lời hướng dẫn của cô.
Cô rất ít khi ngồi yên vì bản tính của cô là type người tạm gọi là dynamic, ưa hoạt động. Cô lái xe băng băng với cái xe cà rịch cà tàng trước đây bao phen đã làm cho cô lỡ việc. Với cái xe mới, Cô lặn lội lên Los chăm lo sức khỏe cho ôn, cô đi thăm người bệnh, người chết, cô đi tụng niệm cầu an, cầu siêu. Khi thấy cô đi bác sĩ, ai nhắc nhở đến sức khỏe, cô mỉm cười cô biết mà, cô lo được chỉ vài viên thuốc Contact, cô khỏe lại, vẫn làm việc xông xáo, đề lại, tổ chức, sắp xếp công kia việc nọ… Bệnh tật hình như cũng "chừa" cô ra, hay…sợ cô" Các Phật tử nhắc nhở cô về các bữa ăn, thuốc men, thời tiết. Cô cười cười "Không sao đâu!" Cô khỏe thật thế rồi một ngày nọ Cô phải vào bệnh viện.
Các Phật tử thân cận đã đưa Cô vào bệnh viện Fountain Valley. Lần này, Cô không thể từ chối được vì cô không còn sức để chống đỡ được nữa. Bệnh thổ tả làm cho cô gầy sút người vì tuần lễ cô có ăn uống được gì đâu. Cô lại ăn chay. Trong người cô được nuôi dưỡng bằng giây nước biển. Các bác sĩ thử máu, làm test liên tục vẫn chưa tìm được bệnh. Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê, có lúc cô tỉnh, Cô nhận ra Ôn và các Phật tử, nước mắt cô long lanh chảy dài trên đôi má hóp. Tôi và các chị Phật tử vào thăm, côn còn tỉnh và tâm sự: "Lúc này nằm trên giường bệnh mới thấy không có sức khỏe thì không làm gì được cả." Chùa A Di Đà cần cô trở về để sửa soạn đón Tết Ất Dậu, các tour hành hương đang cần cô hướng dẫn. Các Phật tử an ủi cô và động viên cô tịnh dưỡng, chùa đã có mọi người lo từ A đến Z, mọi người nhắc cô niệm Phật, các Thầy, các Sư Cô và Phật tử tụng kinh hàng tối cầu an cho cô.
Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê. Bệnh cô càng ngày càng trở nặng, các bác sĩ vẫn chưa xác định được đó là bệnh gì dù đã hơn 10 ngày. Trong phòng chăm sóc đặc biệt, trên người cô là các sợi dây nước biển, ống thở, ống đổ thức ăn, ống tiếp máu…Các Thầy, các Sư cô và Phật tử vào thăm cô không tránh khỏi những giọt nước mắt cảm thương. Các bác sĩ đã tìm ra được bệnh và quyết định tiếp máu đồng thời dùng chemotherapy, trị liệu bằng hóa chất sau khi đã xác định được bệnh của cô.
Khi tôi viết những dòng này, sư cô đã mở mắt và tỉnh lại đôi chút. Cô đã bập bẹ các chữ "A Di Đà Phật" mặc dù chữ Phật còn ngọng nghịu, khó khăn trên đôi môi cô. Cô tỉnh lại là một niềm vui lớn cho tất cả các Phật tử quan tâm đến sức khỏe của cô từ trước tết cho đến bây giờ. Mạng sống của tất cả chúng ta đều vô thường, cũng như ai cũng trải qua cầu sinh tử. Cô đang chiến đấu với tử thần và từ cõi chết, cô đã trở về. Cô ơi, năm nay cô 62 tuổi đời, có một bài hát nổi tiếng của thế gian "Sáu mươi năm cuộc đời", 60 là một con số mà mỗi chúng ta phải quan tâm và chịu nhận, còn thừa lại là phần "bonus" của cuộc đời cho chúng ta đó. Cô đang được hồi sinh và từ từ sẽ hồi phục nhưng cô còn đủ và kịp thời gian để chuẩn bị cho mình một sinh hoạt mới, thói quen mới như cô phải…"nice" với sức khỏe của mình, cô phải "ke" các bữa ăn, cô phải bớt làm việc và nếu làm việc thì chỉ làm việc vừa sức, đừng "abuse" sức khỏe nữa, bởi vì nếu thân không khỏe thì không có phương tiện để mình tu mặc dù biết rằng một ngày nào đó cái thân rồi cũng vô thường.
Mỗi tối, các Thầy, các sư cô, các Phật tử đều ít nhiều dành những lời kinh cầu an cho cô nhân dịp đầu năm. Cô đã trở về, nói đúng hơn thần thức của cô đã trở về sau những ngày lang thang đâu đó. Cô có nhớ gì không trong "chuyến đi" này" Những kinh nghiệm của cô, khi nào cô khỏe, cô nhớ lại và kể cho các Phật tử nghe cô đã đi đâu, gặp ai, làm gì, thấy gì trong những ngày mê man ấy" Dù sao đi nữa…Cô đã trở về. Cuộc chiến đấu với bệnh tật rồi liên tục và quyết liệt nhưng Diệu Lan tin rằng Cô là một phụ nữ đầy nghị lực, cô sẽ không lùi bước trước căn bệnh dù có hiểm nghèo. Chung quanh cô và trên hết, những tiếng kinh cầu nguyện "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát" của các Phật tử luôn luôn bên cạnh cô sẽ vang lên hàng đêm trong các thời công phu tối: - Cô đã trở về.
Kính tặng Sư Cô Như Ngọc
Viện chủ Chùa A Di Đà
Cali ngày 14 tháng 2 năm 2005
Diệu Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.
Ở Hy Lạp thời cổ đại, Thế vận hội Olympics không chỉ là sự kiện để các vận động viên thể hiện sức mạnh và tài năng, mà còn là dịp để những tâm hồn thi ca tỏa sáng – họ sẽ mang những vầng thơ của mình xướng lên trước đám đông khán giả đang háo hức. Và thời đó, các vận động viên cũng thường cậy nhờ những thi sĩ nổi tiếng sáng tác những bài thơ ca ngợi chiến thắng vinh quang của mình. Sau đó, những bài thơ này sẽ được các dàn hợp xướng biểu diễn trong các buổi lễ long trọng. Có một thời văn-võ đã song hành với nhau như thế.
Kể từ khi thượng nghị sĩ JD Vance được chỉ định làm ứng viên phó tổng thống của Donald Trump, các nhà bình luận đã xem xét lại cuốn hồi ký “Hillbilly Elegy” năm 2016 của Vance để tìm hiểu về bối cảnh chính trị hiện nay của Hoa Kỳ. Tám năm trước, Vance là người không bao giờ chấp nhận Trump (Never-Trumper), từng so sánh chủ nghĩa Trump (Trumpism) với “heroin văn hóa,” trong một bài viết trên tạp chí The Atlantic. Tuy nhiên, cuốn hồi ký của Vance là một tài liệu quan trọng để giải thích tại sao chính trị Hoa Kỳ ngày nay lại chuyển hướng ủng hộ Trump.
Từ khi Julius Caesar lìa đời với câu “Et tu, Brute?” (xin tạm dịch: “Cả ngươi nữa sao, Brutus?”), các vụ ám sát chính trị đã không phải là chuyện gì hiếm có. Nhưng liệu với sự phát triển của xã hội thời hiện đại, số lượng các vụ ám sát chính trị có giảm bớt hay không? Liệu vụ ám sát bất thành cựu Tổng thống Donald Trump có phải là một sự kiện ngoại lệ trong các nền dân chủ hiện đại?
Hình ảnh của súng trường bán tự động AR-15 xuất hiện khắp nơi trong đời sống công cộng của nước Mỹ: các nghị sĩ Cộng hòa đeo những chiếc huy hiệu hình AR-15. Cờ Liên minh bay với hình bóng của một khẩu AR-15 và dòng chữ "come and take it" bên ngoài Điện Capitol trong cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1. Chúng cũng được sử dụng để kêu gọi các biện pháp an toàn súng nghiêm ngặt hơn.Vào thứ Bảy vừa qua, khẩu AR-15 xuất hiện trên chính trường Mỹ theo một cách khác – là vũ khí được sử dụng trong vụ ám sát cựu tổng thống Donald Trump.
Campuchia có kế hoạch xây dựng kênh đào Funan Techo Canal (FTC) dài 180 km (110 dặm) từ thủ đô đến bờ biển trên Vịnh Thái Lan, một dự án trị giá 1,7 tỷ USD nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng hóa qua các cảng ở Việt Nam. Nhưng bài phân tích này kết luận rằng kế hoạch FTC không khả thi về mặt tài chính, sẽ có tác động môi trường nghiêm trọng và sẽ làm tình trạng khan hiếm nước ở hai nước hạ lưu thêm khắc nghiệt khi mực nước sông Mekong đã hạ xuống cực kỳ thấp dưới kỷ lục thấp nhiều năm liền rồi. Lập luận của chính phủ Campuchia rằng kênh đào sẽ làm cho vận tải hàng hóa rẻ hơn là điều không thế có, tính toán sơ bộ của tác giả cho thấy cước phí vận chuyển hàng hóa qua kênh này sẽ cao hơn so với qua các cảng ở Việt Nam để đến các nước có Mậu dịch nhiều nhất với Campuchia.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.