Hôm nay,  

Những Mảnh Đời Dang Dở

28/09/200400:00:00(Xem: 7126)
Chiều thứ Bảy ngày 18 tháng 9 năm 2004, sau khi lái xe vượt hàng chục dặm từ Little Sài Gòn, tôi và văn hữu Tiến sĩ Nguyễn Hưng có mặt tại địa điểm của Hội Người Việt San Fernando Valley, nơi tổ chức lễ ra mắt sách "Những Mảng Đời Dang Dở" của nhà văn Nguyễn Ngọc Minh, do bán nguyệt san Thằng Mõ Nam California của nhà văn Tâm An bảo trợ, buổi ra mắt sách kỹ niệm 32 năm khi TQLC của VHCH tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, 16 tháng 09, 1972.
Chưa đến giờ khai mạc mà hội trường đã đầy chật người. Các quan khách: thi, văn, nghệ sĩ, diễn giả, thân hữu cười nói bắt tay vồn vã thân tình. Trên bàn thờ Tổ quốc nào hoa, phướn, lộng, quốc kỳ Việt Mỹ trang trọng oai nghiêm. Bên góc trái hội trường, chúng tôi thấy tác giả, cựu thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Ngọc Minh, với bộ vét đậm trang nhả, đang ký tặng sách đến quý thân hữu. Trên sân khấu, ban nhạc đầy đủ năm người, đang hòa tấu những nhạc bản tuyệt vời giúp cho quan khách càng thỏa mái trong khi lai rai vài món thức ăn nhẹ được ban tổ chức thiết đải tận tình.

Đúng 7 giờ, nhà văn Tâm An, trưởng ban Tổ chức thay mặt tác giả, chào mừng quan khách, giới thiệu chương trình. Các diễn giả gồm có:
- Nhà văn Tâm An.
- Nhà văn Nguyễn Ngọc Minh
- Nhà văn Quí Văn.
- Nhà thơ Trần Việt Hải.
- Nhà thơ Vũ Hoà i Mỹ.
Mở đầu cho buổi ra mắt sách, nhà văn Tâm An nói về quá trình của cuốn sách kể từ khi tờ báo của anh nhận đăng những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Minh. Là một cựu quân nhân trong QLVNCH, anh hiểu tâm trạng của người chiến binh mũ xanh Cọp Biển Nguyễn Ngọc Minh. Để rồi từ đó tờ báo bán nguyệt san Thằng Mõ Nam Cali đã trợ lực việc lay out và phát hành tập sách này.
Kế tiếp, diển giả chính là nhà văn Nguyễn Ngọc Minh lên chia xẻ tâm sự vì sao anh hình thành những mẫu chuyện đã xảy ra trong đời quân ngủ, khi anh xếp bút nghiên gia nhập đơn vị tác chiến, thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, trấn đóng vùng địa đầu chiến tuyến thuộc tỉnh Quảng Trị. Đơn vị anh chiến đấu đến cùng trước khi bị quân đội CSVN trấn áp bằng hỏa lực vào tháng 3, năm 1975. Anh cùng các bạn bị bắt và mang kiếp tù đày. Khi thoát thân ra nước ngoài, anh ngậm ngùi ưu tư về các bạn đồng ngũ đã hy sinh tại chiến địa và các anh em thương phế binh đang còn lê thê mang mảnh đời dang dở, lang thang sống vất vưỡng trên vĩa hè quê hương Việt Nam nơi đang bị bọn CS vô thần ngự trị.
Kế đến, văn hữu Việt Hải, người đã gởi lời mời các văn hữu Văn Bút Nam Cali chúng tôi tham dự buổi ra mắt sách hôm nay. Tuy bị tàn tật, nhưng với âm điệu thân mật nồng nàn, anh Viêt Hải kể lại như lời tâm sự về tình bạn giữa anh và anh tác giả Nguyễn Ngọc Minh. Người cậu họ của anh Việt Hải là trung tá Võ Trí Huệ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 TQLC, cũng là niên trưởng của tác giả, cũng đều chia xẻ những điểm chung của binh chủng oai hùng này. Anh Việt Hải cũng ôn lại hơn 20 năm, hai người biết nhau tại đây cùng sinh hoạt chung trong cộng đồng và chia những điểm tương đồng về cả chính trị lẫn văn chương.
Tiếp theo là nhà thơ Vũ Hoài Mỹ lên diễn đàn chia xẻ những cảm nghĩ của chị khi chị đọc tác phẩm này. Sau đây là một đoạn mà chị phát biểu:
“Với cách viết bình dị và rất "thực", tác giả đã đưa chúng ta trở về với quá khứ chiên đấu oai hùng của dân tộc Việt Nam.Phải nói đây là một cuốn hồi ức tình cảm chiến tranh thì đúng hơn vì tôi đọc thấy ở NMĐDD là những trang hồi ức của một thanh niên đầy nhiệt huyết, với tâm lòng tha thiết yêu quê hương, yêu đồng bào, sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ của chính mình để chiến đấu với giặc thù, đem lại an bình cho quê hương dân tộc. NMĐDD đã vẽ lên được những hình ảnh rất hào hùng của các quân nhân TQLC nói riêng và của toàn thể chiến sĩ QLVNCH nói chung.
Trong toàn tập hồi ký NMĐDD tác giả đã nói lên cái luyến tiếc của anh, cái luyến tiếc vì ước nguyện hy sinh cả tuổi trẻ, tương lai cho quốc gia, dân tộc, để rồi nửa đường các anh phải buông súng chịu cái thân phận kẻ bại trận. Bại trận chẳng phải vì các anh hèn nhát mà vì quân đội của chúng ta đã sa vào cái thế bị bỏ rơi!

Tôi cũng nhìn thấy ở NMĐDD qua tâm tình của tác giả, gương hy sinh của những bà mẹ già, những người vợ trẻ, những đứa con thơ và những người yêu bé nhỏ ở hậu phương... Máu của các anh cũng đỏ thắm, tim các anh cũng nồng nàn tình yêu thương nhưng vì tình yêu quê hương cao cả, các anh đã hy sinh những tình riêng để rồi cuối cùng quê hương thân yêu của chúng ta vẫn phải ngậm ngùi rơi vào cái hoàn cảnh nghiệt ngã, để lại rất nhiều ...những mảnh đời dang dở !
Với lời văn khiêm tốn và thành thật, tác giả đã viết nhiều về những hy sinh của các bạn trẻ với những tương lai đầy hứa hẹn, có thể họ đã là những bác sĩ, kỹ sư… nếu chẳng vì hy sinh để theo đuổi con đường phục vụ, chiến đấu bảo vệ tự do, no ấm cho quê hương dân tộc.

Qua NMĐDD, Nguyễn Ngọc Minh đã cho chúng ta thấy sức chịu đựng phi thường của cá nhân anh nói riêng và của người chiến sĩ VNCH nói chung khi kể lại những nhọc nhằn, cơ cực của tháng năm bị giam cầm trong lao tù cộng sản và rồi những khốn khó gian nan trong chuyến vượt biên tìm tự do bằng đường bộ suốt 2 tháng trời.

Cũng trong NMĐDD, chúng ta được nghe những chuyện rất thật, anh nhắc lại từng kỷ niệm với tất cả bạn bè. Từ những ngày mới nhập ngũ, đến kỷ niệm khi các anh được về hậu cứ nghỉ ngơi đôi ngày, những gian lao vất vả trong những trận chiến khốc liệt bên đồng đội của anh. Với những day dứt xót xa anh đã kể cho chúng ta nghe ai còn, ai mất… Xúc động nhất là đoạn Nguyễn Ngọc Minh nhắc đến những mảnh đời dang dở rất khốn nạn còn bị bỏ rơi gần như quên lãng, đó là những anh em thương phế binh của QLVNCH hiện còn đang sống rất cơ hàn và tủi nhục tại quê nhà.”
Chị như rưng rưng dòng nước mắt chia xẻ nổi điêu linh từ cuộc chiến cũ:
“Đọc NMĐDD không khỏi làm cho lòng tôi chùng xuống, thương cho đất nước Việt Nam của chúng ta đã phải rơi vào một hoàn cảnh thật bi đát, cái hoàn cảnh đã làm cho những người chiến sĩ rất hào hùng của chúng ta đã không được cái hãnh diện là kẻ chiến thắng, cái vinh dự mà họ rất xứng đáng! Những hy sinh cũng như những chiến đấu kiêu hùng của các anh luôn luôn vẫn là niềm hãnh diện của cả dân tộc Việt Nam, thật đáng là những tấm gương oai dũng cho những thế hệ mai sau.

Cái giá trị của NMĐDD không chỉ là một tập bút ký chiến tranh ghi lại những kỷ niệm đời binh nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Minh mà thôi, nó còn có giá trị lịch sử và địa lý, đóng góp thêm cho tài liệu quân sử và lịch sử chiến tranh Việt Nam...”
Tất cả những người trong hội trường đang yên lặng lắng nghe, bỗng vang lên những tràng vỗ tay không ngừng. Thật là tuyệt vời của một nữ sĩ có một cái nhìn thật chính xác về cuộc chiến mà tác giả là một trong những chứng nhân lịch sử. Sau cùng là chị Hoài Mỹ giới thiệu nhà văn Quí Văn, đến từ San Gabriel Valley, trước 75, ông là một đại tá Quân Pháp. Nhà văn Quí Văn mở đầu bằng giọng nói thâm trầm, từ tốn ông cho biết:

"Chúng tôi vừa mới quen anh Nguyễn Ngọc Minh. Sau khi đọc cuốn hồi ký này chúng tôi có cảm tưởng là đã biết anh từ lâu. Phải chăng là vì trong hồi ký này anh đã nói về cuộc đời lính anh đã từng trải qua và hầu hết những ai cầm súng trong tiền đồn miền Nam đều cùng chung có ý nghĩ giống như anh.

Đọc hồi ký, chúng tôi nhận thấy từ 1972 đến ngày miền Nam chúng ta mất vào tay CSVN, ngay trước và sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, anh Nguyễn Ngọc Minh đã là một sĩ quan phục vụ tại tuyến đầu của đất nước, nơi mà người lính TQLC đã đóng góp xương máu vào công cuộc giữ đất, giữ dân, giành đất, giành dân lại mỗi khi CS lấn chiếm mà anh Minh nhập đại cuộc vào những năm sau cùng của Miền Nam Tự Do, và hôm nay hơn 30 năm sau, anh vẫn chưa rời đại cuộc. Sách của anh có những trang đầy hào khí, có những trang đầy bất bình làm chúng tôi nhớ đến tướng George Smith Patton của Hoa Kỳ trong thời Đệ nhị thế chiến. Một hôm khi trả lời báo chí phỏng vấn, ông đã nói: "Trước hết tôi là một người lính. Tôi không là một chính khách, hay một nhà ngoại giao hay một chính trị gia. Tôi không phải rào đón gì cả...".
Sau phần các diễn giả mạn đàm về tác phẩm NMĐDD là đến phần hai góp vui văn nghệ "Cùng hát nhau nghe". Với sự đóng góp những tiếng hát nồng nàn đượm màu nhớ quê hương như ca sĩ Thanh Mỹ, nữ thi ca sĩ Vũ Hoài Mỹ, tác giả Nguyễn Ngọc Minh và hơn 10 ca sĩ địa phương càng làm cho buổi ra mắt sách thêm phần sinh động, hào hứng khi tiếng vỗ tay tiếp tục vang dội.
Cuối cùng, ban tổ chức cho biết tổng số tiền bán sách thu được là $2,755. Tất cả tiền bán sách (cả vốn lẫ n lời) dành gởi tặng cho những tổ chức từ thiện và các anh em Thương Phế Binh VNCH đang lây lất tại quê nhà.
Xin cảm ơn ban tổ chức và tác giả Nguyễn Ngọc Minh đã cho chúng tôi cơ hội, hội nhập vào dòng văn chương và những kinh nghiệm sống, cũng như trang sử mà TQLC tiểu đoàn 7 đã kinh qua nói chung hay tác giả nói riêng. Tôi nhớ là nhà biên khảo Mường Giang cũng đã đào sâu và nêu lên nghi vấn: "Có mấy ai làm chủ được mình hay vận mệnh đất nước mình ""

Với tôi, nhà văn Nguyễn Ngọc Minh với tác phẩm "Những Mảnh Đời Dang Dở" là một trong những viên gạch "sành" rắn rỏi góp phần không nhỏ vào trang sử hào hùng của QLVNCH được ra mắt tại hải ngoại, bổ xung vào thư viện Việt Mỹ, vinh danh tất cả công lao của những quân nhân cán chính VNCH, nhất là hình ảnh chiến đấu hào hùng của người lính mà các nhà văn, nhà báo Hoa Kỳ, ngoại quốc, đã cố ý bỏ qua. Như anh Việt Hải đã phát biểu: "Đây là vấn đề hệ trọng, như vậy thế hệ mai sau lớn lên nơi xứ người làm sao biết được những gì xảy ra trên mãnh đất chữ S mà cha ông ngày xưa đã tiêu hao bao nhiêu xương máu vun bồi lại nó."
Hơn thế nữa, dù là cưu mang mảnh đời dang dở sống nơi xứ người, nhưng tác giả không quên quyên góp tiền bạc để giúp đỡ các đồng đội thương phế binh đang kéo lê kiếp sống tàn tạ bên kia bờ đại dương. Cuộc đời của họ chỉ là những chuỗi nước mắt quê hương. Tôi đọc tác phẩm này trong nổi nghẹn ngào khi tác giả chùng lòng nói về các bạn anh đã hy sinh vào lòng đất hay tàn phế vì những oan khiên làm người. Xin gởi nhiều đoá hoa hồng đến tác giả Nguyễn Ngọc Minh.
Lịch sử của nhân loại hay của một dân tộc không phải là lịch sử của những kẻ chiến thắng dùng mọi thủ đoạn đê tiện chính trị quân sự hay một mánh lới nào đó để đè bẹp đối phương, rồi từ đó tự mình huênh hoang vẽ rồng vẽ rắn thêu dệt trên trang sách để đầu độc ngu dân. Và cũng không phải do một nhóm chóp bu phía bên này bên kia tự nổ tung ra để ca tụng phe mình. Lịch sử phải là sự bắt đầu từ những trang sử nhỏ của những con dân bình thường khi "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Trong đó có những bút ký chiến tranh của những "sĩ phu" ghi lại toàn bộ nỗi bi hùng, hoặc kinh hoàng tàn khốc của cuộc chiến Việt Nam như "Mùa Hè Đỏ Lửa" của nhà báo, nhà văn chiến trường Phan Nhật Nam. Hay "Anh Hùng Bạt Mạng" của nhà văn Trần Thy Vân, tận dụng mọi khía cạnh ưu thế của địa hình, tâm lý, hay binh pháp quyét sạch địch quân, giành từng tất đất. Lịch sử có biết chăng những người lính trẻ kia đã trở thành những nạn nhân vô tổ quốc sau cuộc chiến, họ sống khiêm nhường cho những tháng ngày vì quê hương. Bao oan hồn Anh Linh Tử Sĩ, thương phế binh, quân dân cán chính miền Nam lần lượt ra đi tránh ách CS chuyên chế vô thần. Thê thảm hơn những loạt đạn AK vẫn căm hờn khạt lên những chiếc thuyền con vượt tìm tự do vô tội. Thân phận con người yêu tự do là thế đấy, hay thân phận của người lính VNCH là những chuổi ngày buồn khi ánh tà dương phủ lên vai họ một buổi chiều hoàng hôn của Những Mảnh Dang Dở, bi ai.
Xin trân trọng giới thiệu đến tất cả bạn đọc bút ký chiến tranh: "NHỮNG MÃNH ĐỜI DANG DỠ".
Mọi sự đóng góp ủng hộm mua sách xin vui lòng liên lạc về:
1- Bán nguyệt san Thằng Mõ, email: [email protected], hay
2- Qua phone cho tác giả (818 884-8271.
Chúng tôi ra về trong sự hân hoan biết thêm một cộng đồng người Việt phía Tây Bắc Los Angeles với khoảng 30,000 đồng hương cư ngụ, đã an cư lạc nghiệp, sống êm đềm trong tình thân ái đoàn kết và hiền hòa.

Anh Vũ
Mùa Thu Nam Cali, 9-26-2004

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.