Hôm nay,  

Thất Hiền

10/11/200400:00:00(Xem: 7717)
3

Trong Thất Hiền, Cẩn là người bỏ học sớm nhất, đi làm, và làm ra tiền sớm nhất, trong đám tụi tôi.
Sau anh, tới tôi.
Anh cũng là người thân nhất với Gấu, theo nghĩa, hai thằng hay tâm sự, đều mê đi xóm, và đều coi, mỗi lần đi như vậy, là rất đỗi thiêng liêng, giống như đi hành hương, trở về cội nguồn.
Và, đều rất nhớ Hà Nội.
Rất nhiều chi tiết về Hà Nội, trong tập truyện ngắn đầu tay của tôi, Những Ngày Ở Sài Gòn, là của anh.
Hình ảnh một thằng bé nhà quê Bắc Kỳ, được gia đình cho ra Hà Nội học, tới khi hiệp định Genève ký kết, dân Hà Nội ùn ùn kéo nhau vào Nam, thằng bé bèn xách cái rương quần áo, sách vở về quê, đứng bên này sông nhìn về hướng làng, nơi có mấy cay cau cao cao, bất giác hú lên mấy tiếng, như một con thú bị thương, rồi bỏ vào Sài Gòn, của tôi, là 'thuổng' và sau đó, cường điệu thêm ra, từ nhân vật Phạm Năng Cẩn có thật ở ngoài đời: Anh đã trốn nhà đi vào Nam, vì cứ nghĩ, hai năm sau, khi tổng tuyển cử thống nhất đất nước là lại 'được', hay 'bị', trở về, hay trả về Bắc"

Thí dụ như những trích đoạn sau đây.
Trong Chuyện Hai Thành Phố.
Năm mười bẩy tuổi, khi biến cố quan trọng xẩy ra, Nguyên trốn gia đình vào Nam, một thân một mình, mang theo hai rương nhỏ chứa đầy quần áo, sách vở, những cuốn tiểu thuyết Khái Hưng, Nhất Linh, Lê Văn Trương, trinh thám Phạm Cao Củng….

Nguyên, tức Cẩn ở ngoài đời. Hai cái rương, có thực, nhưng không của anh, mà là của Gấu. Đó là gia tài của Mẹ, của Đất Bắc, Gấu vác lên tầu Rắn Biển, thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Mẽo, mang vô Sài Gòn.

Hay như đoạn sau đây.
Trong những năm học chật vật, sống nhờ ông anh ruột, Nguyên quen Phượng…Một hôm chàng bị gọi xuống văn phòng vì chưa thanh toán học phí, và trở khi trở lại lớp, mắt vẫn còn đỏ hoe. Giờ ra chơi vô, Nguyên ngạc nhiên thấy tấm biên lai đã trả học phí trong một cuốn vở. Những lần sau, Phượng bọc tiền vào khăn tay rồi bỏ vào túi áo Nguyên khi cả hai cùng đi uống giải khát. Thường ra, thế nào cũng có dư, và Nguyên lại rủ Tuấn [tức Gấu], hoặc Khải, đi ciné. Luôn là rạp bình dân, cả hai vừa, coi vừa bắt chước lũ trẻ đập chân lên thành ghế rầm rầm. Trong những lần đi ciné như vậy, Tuấn được Nguyên tâm sự về mối tình đầu với Phượng của anh.
Nhưng đó có thể gọi là mối tình đầu"


Tuấn hỏi lại Nguyên những ngày sau đó, khi Nguyên đã bỏ học, đi làm xa thành phố. Tuấn đã ra trường…Những lần về Sài Gòn, Nguyên kéo Tuấn vào mãi tận Chợ Lớn, kiếm một căn phòng nhỏ, ở khách sạn Tầu, và một em. Chương trình, bài bản đã thuộc nằm lòng. Cả hai sẽ thức suốt đêm ôn chuyện cũ, và cùng tự hỏi, phải bắt đầu từ đoạn nào, nếu muốn trở về Hà Nội, [phải bắt đầu từ đâu, trên con đường chỉ có trong tưởng tượng]. Nguyên đề nghị, nên bắt đầu bằng lần hành hương thứ nhất trong đời, rồi anh bật cuời kể lại, lần đó, sau khi hành sự xong, mà có biết gì đâu mà hành sự, nhưng được cái, cô gái làng chơi chỉ bảo anh thật là tận tình, anh quay ra ngủ thật ngon lành, tới sáng, tỉnh dậy, Nguyên thấy mình rúc vào nách cô gái, y hệt những ngày còn nhỏ tí nằm với mẹ.


Bởi vì anh là người đi làm trước Gấu, và làm có tiền, thành thử, những lần tới xóm đầu tiên trong đời Gấu, là đều do Cẩn bao! Trừ lần đầu rất đầu, the very first, Gấu không phải đi với Cẩn, mà là với đám bạn bè văn nghệ người miền nam. Đây mới là những ông thầy đích thực dẫn Gấu về cội nguồn.

Với mấy ông bạn miền nam, chuyện lần đầu, là thuộc về thời kỳ tiền sử, hoặc chậm lắm, thời kỳ đồ đá, của một trăm năm một đời người [Chắc là vào cái Tuổi mười lăm gấp sách lại…, và thay vì đứng nghe, thì là bèn…lên xóm!].

Khi còn là học sinh, cả đám đã lo 'làm văn nghệ', và được tay Trịnh Vân Thanh giao cho phụ trách trang Văn Học Nghệ Thuật cuối tuần của tờ tuần báo Mã Thượng. Chính trên trang báo này, Huỳnh Phan Anh và Dương Trần Thảo, tức Dương Văn Ba, đã viết lá thư gởi nhóm Sáng Tạo, để bàn về thế nào là văn chương hậu-Tự Lực Văn Đoàn, thế nào là văn chương thế đấy [tạm dịch từ Tel Quel của Tây].
Trong một bài tạp ghi, tôi đã kể lại, lần đầu tiên lãnh tiền nhuận bút trang Văn Học Nghệ Thuật, cả đám kéo nhau lên xóm. Hai ông thần kia, chắc là nghĩ Gấu đâu có lạ lẫm gì nơi chốn này, bèn cứ thế đi vô phía trong, rồi ở luôn trong đó, bảo Gấu trơ trọi ở bên ngoài, cho tới khi má mì hỏi, cậu có đi không, Gấu đâu có biết đi nghĩa là gì, lại tưởng bà ta biểu, có về không, thế là Gấu lắc đầu, nói, còn chờ mấy người bạn!
Nhưng sau đó, thì quá quen.
Nhất là thời gian mới ra trường, có tí tiền lương.
Nói có tí tiển lương, là nói một cách khiêm tốn!
Bởi vì lương của Gấu hồi đó, là năm ngàn hai trăm đồng, tiền thời ông Diệm. Gấu nhớ, vàng lúc đó, đâu chỉ chừng hai ngàn một lượng. Lương thợ chưa tới một ngàn. Lương lính còn ít hơn. [Gấu ra trường, đi làm năm 1960, năm 1963, ông Diệm bị đệ tử làm thịt]

NQT
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.