Hôm nay,  

Lịch Sử Của Cách NhuộmTie-Dye

26/05/202300:00:00(Xem: 2620)
 
Nhuộm-tie-dye

Nhuộm tie-dye nổi lên ở Bắc Mỹ như một biểu tượng của phong trào hippie những năm 1960. Ai cũng có thể tự bắt tay vào làm dự án DIY dễ dàng này với các vật liệu dễ tìm thấy tại cửa hàng tạp hóa. 



Nhiều người sẽ không nghĩ rằng phương pháp nhuộm tie-dye là ngành thủ công nghệ thuật có tuổi đời hàng thiên niên kỷ. Phương pháp này nổi lên ở Bắc Mỹ như một biểu tượng của phong trào hippie những năm 1960, ai cũng có thể tự bắt tay vào làm dự án DIY dễ dàng này với các vật liệu có sẵn tại cửa hàng tạp hóa.
 
Tie-dye được biết đến như là một loại kỹ thuật nhuộm vải. ‘Tie’ có nghĩa là buộc lại, ‘dye’ là nhuộm. Sau khi buộc quần áo thành một hình thù bất kỳ, người ta sẽ mang đi nhuộm toàn bộ hay nhỏ thuốc nhuộm một cách bất quy tắc.
 
Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử, phương pháp nhuộm tie-dye luôn được yêu thích, có tiếng nói riêng, và trong một số trường hợp thậm chí còn bị cấm đoán. Nó giúp thể hiện địa vị, vai trò và niềm tin của một cá nhân.
 
Phần lớn các phương pháp và phong cách nhuộm tie-dye khác nhau có nguồn gốc riêng biệt trên khắp thế giới, từ Peru đến Nigeria, Nhật Bản và Đông Nam Á. Kỹ thuật nhuộm này là một kiểu “chống” nhuộm, người ta sử dụng sợi chỉ để cột hoặc thắt phần vải cần nhuộm lại, để tạo ra những chỗ sẽ không bị ‘ăn màu thuốc nhuộm.’ Mỗi nền văn hóa đã thêm vào những nét độc đáo của riêng mình trong các thiết kế, chẳng hạn như nhuộm vải buộc vào que, vẽ hoa văn bằng sáp hoặc tạo nút thắt bằng gạo, đá hoặc hạt.
 
Người ta chưa thể xác định được nền văn hóa nào và khi nào thì phương pháp nhuộm tie-dye được phát triển đầu tiên. Hàng dệt may, vải vóc thường mỏng manh và được làm bằng sợi hữu cơ, rất dễ bị hư hỏng, nên các chuyên gia tin rằng những mẫu vật ban đầu trong tất cả các nền văn hóa đã bị thất lạc, mất mát theo thời gian.
 
Lee Talbot, người phụ trách bảo tàng viện George Washington University MuseumTextile Museum, nói rằng điều đó được chứng minh bằng “sự hoàn hảo” trong các mẫu cổ nhất còn sót lại được tìm thấy: “Chúng ta sẽ chẳng thấy khoảng thời gian dài thử nghiệm nào… Nhưng người ta đã sử dụng kỹ thuật nhuộm này rất lâu rồi.”
 
Các chuyên gia về lịch sử dệt may chia sẻ những ý nghĩa văn hóa đằng sau các phương pháp nhuộm tie-dye khác nhau trên khắp thế giới và làm thế nào mà chúng còn tồn tại cho đến ngày nay.
 
Bandhani: Ấn Độ
 
Bandhani là hình thức nhuộm tie-dye lâu đời nhất được biết đến, có từ 4,000 năm trước Công nguyên trong Nền Văn Minh Thung Lũng Indus (Indus Valley Civilization), ngày nay là khu vực phía bắc của Ấn Độ. Người ta vẫn còn sử dụng kỹ thuật nhuộm này trên khắp tiểu lục địa ngày nay.
 
Các hoa văn Bandhani được tạo ra bằng cách xén vải thành các chỏm nhỏ và buộc lại bằng chỉ trước khi nhuộm. Các nút thắt nhỏ này sẽ bảo vệ phần vải bên dưới không bị ‘ăn thuốc nhuộm,’ tạo ra các vòng xoáy và hoa văn có thể sử dụng trên quần áo như sarees, khăn quàng cổ và khăn turbans.
 
Theo Natalie Nudell, Adjunct Assistant Professor tại Học viện Fashion Institute of Technology, hoa văn trên các mẫu khăn vuông bandanna hiện đại ở phương Tây được phát triển từ Bandhani.
 
Một số mô tả về Bandhani lâu đời nhất được lưu giữ trong các ghi chép và tranh vẽ trong các hang động Ajanta ở miền Trung Ấn Độ. Ở miền Bắc Ấn Độ, các mẫu này nhắc đến trong các bài hát và thơ ca như biểu tượng của tình yêu và tình cảm.
 
Theo Talbot, ngày nay ở Ấn Độ, Bandhani và tình yêu vẫn có liên quan với nhau – người ta thường mặc hoặc tặng quần áo, vải vóc có hoa văn Bandhani trong lễ cưới.
 
Amarra: Pêru
 
Amarra xuất hiện ở Peru khoảng 1,500 năm trước. Kiểu nhuộm tie-dye này lan rộng khắp Châu Mỹ – đến tận Tây Nam Hoa Kỳ, tại đây người ta đã phát hiện một số loại vải có hoa văn Amarra cổ nhất do tổ tiên người Pueblo tạo ra, chúng được cho là có niên đại từ thế kỷ X.
 
Theo Laurie Webster, một học giả thỉnh giảng của Trường University of Arizona, một điểm đặc trưng của Amarra là thiết kế dạng lưới của những hình dạng kim cương với các chấm ở trung tâm, hoa văn tượng trưng cho da rắn hoặc cánh đồng ngô.
 
Webster cho biết đây là những họa tiết thiêng liêng đối với các nhóm người bản địa ở Châu Mỹ, họ đã sử dụng kỹ thuật nhuộm tie-dye để tạo ra các mẫu thiết kế trên quần áo, chăn màn và các loại vải dệt trang trí khác.
 
Trong các bức tranh tường và các bản ghi hình ảnh khác còn sót lại, các vị thần và nhân vật tôn giáo thường được miêu tả là mang, mặc đồ có hoa văn Amarra.
 
Shibori: Đông Á
 
Mặc dù kỹ thuật nhuộm Shibori có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng chúng được biết đến nhiều nhất như một loại hình nghệ thuật của Nhật Bản xuất hiện từ hơn 1,000 năm trước. Những mẫu hoa văn thiết kế Shibori còn sót lại ở Trung Quốc có từ thế kỷ IV. Người Trung Quốc ngày nay vẫn còn sử dụng kỹ thuật nhuộm Shibori, đặc biệt là các dân tộc thiểu số ở phía tây nam.
 
Với phương pháp nhuộm Shibori, người ta đặt một hạt gạo hoặc một miếng kim loại nhỏ vào mỗi nút vải và lấy sợi chỉ buộc chặt lại, rồi mang đi nhuộm. Sau khi nhuộm, các sợi chỉ được tháo ra, tạo ra những vòng tròn nhỏ. Phải mất nhiều giờ để hoàn thành quá trình buộc, nhuộm và tháo, để tạo ra các hoa văn phức tạp.
 
Nudell nói: “Đó là một kỹ thuật tốn rất nhiều thời gian và công sức, rất được tôn trọng [ở Nhật Bản].”
 
Theo Talbot, dân quê thì mặc trên quần áo làm từ sợi gai dầu và sử dụng màu chàm để tạo ra các hoa văn shibori. Kimono Shibori làm bằng lụa rất đắt tiền và phần lớn chỉ có tầng lớp thượng lưu mới được mặc.
 
Shibori nổi tiếng với giới quý tộc, thị dân giàu có và thậm chí cả những kỹ nữ hạng sang. Khi Shibori trở thành biểu tượng của sự xa hoa, Mạc phủ cầm quyền đã cấm nó hoàn toàn như một phần của luật cấm xa hoa, lãng phí của Nhật Bản.
 
Những luật này quy định cách ăn mặc và tiêu tiền của từng tầng lớp xã hội. Mạc phủ Tokugawa gọi đây là trách nhiệm đạo đức để duy trì hệ thống phân cấp. Sắc lệnh đặc biệt này, được thông qua vào cuối những năm 1600, quy định rằng không ai có thể làm Shibori.
 
Dù bị cấm, chúng vẫn được yêu thích và phổ biến, nhiều người đã sử dụng khuôn tô để bắt chước lại các mẫu hoa văn Shibori. Lệnh cấm Shibori được gỡ bỏ vào năm 1868, và Shibori vẫn là một tập tục nhuộm truyền thống phổ biến dành cho áo Kimono ở Nhật Bản.
 
Adire: Nigeria
 
Ở Nigeria, người Yoruba làm Adire bằng cách xếp nếp vải trước rồi mới buộc bằng sợi chỉ hoặc sợi lá chuối và mang đi nhuộm. Giống như Shibori, chúng thường được nhuộm màu xanh bằng chàm.
 
Người ta cũng tạo ra các hoa văn hình tròn bằng cách bọc đá và hạt lớn bên trong vải dệt, cũng tương tự như Shibori.
 
Nudell cho biết, đối với người Yoruba, những thiết kế adire trên quần áo gắn liền với bản sắc của một cá nhân. Adire thường mang các biểu tượng thể hiện địa vị xã hội và văn hóa của người mặc – chẳng hạn như tuổi tác hoặc cấp bậc của họ trong xã hội.
 
Talbot giải thích thêm: “Cách diễn giải của mỗi nền văn hóa về kỹ thuật nhuộm tie-dye không khác nhau nhiều, và họ diễn tả nó theo thẩm mỹ của riêng mình.”
 
Adire vẫn giữ vai trò kinh tế và xã hội quan trọng đối với người dân Nigeria, vì nó tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho nông dân, thợ dệt và thợ nhuộm địa phương.
 
Trong suốt nhiều thế kỷ và trên toàn thế giới, phương pháp nhuộm tie-dye vẫn được quan tâm nhiều về khía cạnh văn hóa. Talbot nói: “Trong khi nhiều kỹ thuật thủ công đã không còn được sử dụng hoặc đã lỗi thời, thì thể loại nhuộm tie-dye dường như luôn được ưa chuộng.”
 
Cung Đô phỏng dịch
Cung Đô phỏng dịch theo bài viết “Beloved yet banned: The surprising history of tie-dye” của Emily Fagan, được đăng trên trang Nationalgeographic.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
David Azoulai, Chủ tịch hội đồng thị trấn Metula phía bắc Israel, đã kêu gọi Israel biến Dải Gaza trông giống như trại tập trung Auschwitz khét tiếng do Đức Quốc xã điều hành. Theo báo The Jerusalem Post, Azoulai nói rằng Gaza nên vắng bóng người Palestine và san phẳng. Ông đề nghị Hải quân Israel có thể vận chuyển người Palestine đến các trại tị nạn ở Lebanon: “Sau đó, một dải an ninh nên được thiết lập từ biển đến hàng rào biên giới Gaza, hoàn toàn trống rỗng, như một lời nhắc nhở về những gì đã từng ở đó. Nó sẽ giống với trại tập trung Auschwitz.”
Trước 1975, người Sài Gòn nói chung và dân miền Nam nói riêng, dù là người ít mê... vọng cổ, song hầu như không ai là không biết nghệ sĩ Văn Hường, ông “Vua vọng cổ hài” của đầu thập niên 1960 cho đến khi ông “gác kiếm” lui về quê Thủ Đức “ở ẩn”. Tin ông vừa mới qua đời, chính thức “từ giã cuộc chơi” vào tối ngày 7 tháng 12 năm 2023 làm giới mộ điệu ông trong và ngoài nước vô cùng thương tiếc...
Bộ Dân quyền California (CRD: California Civil Rights Department) thông báo rằng Bộ đã đạt được thỏa thuận giải quyết trị giá khoảng 54 triệu USD trong vụ kiện phân biệt giới tính chống lại Activision Blizzard, một công ty trò chơi video. CRD đã đệ đơn kiện này vào tháng 7/2021, cáo buộc rằng Activision Blizzard có văn hóa nơi làm việc "nam tính", nơi phụ nữ bị quấy rối tình dục và phân biệt đối xử dựa trên giới tính.
VOA: Nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung đến Đức tị nạn. Theo Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Hôm 15/12, nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung và gia đình đáp máy bay đến thành phố Frankfurt, Đức để định cư, ông cho VOA biết qua email. Nhà hoạt động nhân quyền Grace Bùi ở Thái Lan viết trên trang Facebook hôm 15/12 rằng ông Trung và gia đình đã rời khỏi Việt Nam trước đây và lánh nạn tại Thái Lan một thời gian trước khi đến Đức. “Khi còn ở Thái Lan thì Trung đã bị an ninh Việt Nam theo dõi và Đức đã cấp visa khẩn cấp cho Trung”, nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ viết.
Hàng năm, người dân Hoa Kỳ mua khoảng 35 triệu đến 50 triệu cây Giáng sinh, và cũng có nhiều người mang cây Giáng sinh nhân tạo từ nhà kho ra để dùng trong mùa lễ hội. Theo các cuộc khảo sát, tổng cộng khoảng 3/4 số hộ gia đình ở Hoa Kỳ thường sở hữu một số loại cây Giáng sinh nào đó. Nhiều người thường thắc mắc loại nào thực tiễn hơn – cây thật hay cây nhân tạo? Vấn đề này gây tranh cãi khá nhiều, và câu trả lời phụ thuộc vào người được hỏi và những yếu tố được xem xét.
Trong thời điểm hiện tại, khi nói đến trí thông minh nhân tạo (AI), người ta thường nhắc đến nhiều điểm xấu hơn là điểm tốt. Người ta nói đến kịch bản “ngày tận thế” với máy tính siêu thông minh, nói đến việc AI đưa tin giả... Những cảnh báo này cũng đáng quan tâm. Nhưng trên thực tế, AI vẫn có tiềm năng to lớn mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại. Theo trang mạng https://theconversation.com, trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân ngày càng sử dụng nhiều công cụ hỗ trợ AI hơn để giải quyết các vấn đề đe dọa sức khỏe con người, môi trường, và an ninh lương thực. Các nhà nghiên cứu dự báo thị trường cho những công cụ này có thể đạt 12 tỷ USD vào năm 2032.
Mùa Giáng Sinh lại về. Nhiều gia đình bất kể theo truyền thống tôn giáo nào lại có những cây thông xanh hay cây Giáng Sinh (Christmas Tree) để trưng bày đón ngày Thiên Chúa giáng trần. Có người thắc mắc rằng truyền thống này có từ thời nào, bắt nguồn từ đâu? Hẳn là nó có liên hệ đến Ki Tô giáo? Theo trang mạng chuyên về lịch sử www.history.com, từ rất lâu trước khi đạo Thiên Chúa ra đời, những loài cây cối xanh quanh năm có một ý nghĩa đặc biệt đối với con người vào mùa đông. Giống như ngày nay trang trí nhà cửa trong mùa lễ hội bằng các loại cây thông, nhiều dân tộc cổ đại treo những cành cây thường xanh (evergreen) trên cửa ra vào và cửa sổ. Ở nhiều quốc gia, người ta tin rằng cây thường xanh sẽ xua đuổi phù thủy, ma quỷ, ma quỷ và bệnh tật.
Trong hàng loạt những hình ảnh về các ngôi nhà bị đánh bom hay đường phố bị tàn phá ở Gaza, có một số hình ảnh nổi bật với sự kinh hoàng tột độ: Những đứa trẻ bị bỏ rơi, mình mẩy nhuốm đầy máu. Với hàng triệu lượt xem trên các nền tảng trực tuyến, những hình ảnh này là những hình ảnh giả (deepfake) được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Nếu để ý kỹ, chúng ta có thể thấy các manh mối chẳng hạn như ngón tay cong kỳ lạ hoặc đôi mắt lấp lánh ánh sáng không tự nhiên.
Cách đây gần 60 năm, học sinh sau khi đậu tú tài muốn vào Đại học Y khoa Sài Gòn phải thi vào dự bị y khoa được gọi là APM, viết tắt của “Année Prémédicale”, năm Tiền Y khoa và học ở Đại học Khoa học. Sinh viên thi vào rất đông, chừng 4000 đến 5000 người và sẽ tuyển chừng 200 người. Hồi đó chỉ có hai trường Y ở trong nước, một ở Sài Gòn và một ở Huế, mở sau trường Sài Gòn và ít người học hơn. Trường Dược (5 năm), Nha khoa (5 năm) là những trường riêng biệt cũng phải thi vào (được gọi là thi concours). Các ngành khác cũng qua concours như Sư phạm, Kiến trúc, Kỹ sư (Phú Thọ), hành chánh. Nghe nói thi vào trường (Học viện) Quốc gia Hành chánh tỷ lệ được chấp nhận còn thấp hơn vào trường Y khoa. Các trường Luật và Văn khoa theo chế độ đại học mở cửa của Pháp, không phải thi vào và sinh viên rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.