Hôm nay,  

Ba Bản Dịch Kinh Pháp Cú

8/12/201912:53:00(View: 6174)

Kinh Phap Cu Tay Tang

Trên trang báo Tu Viện Quảng Đức (Úc Châu) ngày 1/6/2014, trong bài viết Kinh Pháp Cú Chú Giải (Song Ngữ) của sa môn Thích Phước Thái có đoạn như sau:

“ Kinh Pháp Cú là những câu nói ngắn gọn do Đức Phật nói ra tùy theo từng trường hợp. Những lời dạy nầy nhằm mục đích thức nhắc đương cơ lưu tâm để áp dụng tu hành cho có kết quả tốt đẹp. Những lời dạy nầy về sau đã được chư Tổ kết tập lại, thành Kinh gọi là Kinh Pháp Cú. Mỗi lời dạy đều có ghi rõ lý do xuất xứ.

Toàn Kinh gồm có 26 phẩm và có tất cả là 423 câu. Kinh nầy nằm trong Tiểu bộ (Khuddaka- Nikaya) của tạng Kinh Pali và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ở Á Châu và Âu Mỹ. Đại Đức Narada đã dịch ra bản chữ Anh, xuất bản tại Tích Lan. Một bản chữ Anh khác của giáo sư C.R Lanman, do Đại học đường Haward tại Mỹ quốc xuất bản; bản chữ Nhật của Phước đảo Trực Tứ Lang xuất bản tại Nhật và các bản Hán dịch rất cổ với danh đề là Pháp Cú Kinh, Pháp tập yếu tụng v..v

Kinh nầy rất được phổ cập tại các nước Phật giáo Nguyên Thủy như Tích Lan, Miến Điện v..v.. Có thể nói Kinh nầy như là một quyển Kinh nhật tụng của giới Tăng già và cư sĩ ở các quốc gia đó. Họ coi như là một quyển kinh gối đầu giường. Đại đa số đều nhớ nằm lòng. Họ thường xuyên đem ra áp dụng vào đời sống thực tế hằng ngày. Kết quả rất có lợi ích.

Riêng những bản chữ Việt, chúng tôi thấy có một vài bản dịch ra Việt văn như sau:

1. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu do nhà xuất bản Phú Lâu Na ấn bản tại Hoa Kỳ Phật lịch 2546 - 2002.

2. Kinh Lời Vàng Dhammapada do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali theo thể văn kệ.

3. Bản dịch của các Ni sinh thuộc thiền viện Viên Chiếu dịch theo bản chữ Anh của học giả Eugène Valson Buxlingame. Nhà học giả nầy đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú sơ giải bằng tiếng Pali, do nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1999. Đặc biệt bản dịch nầy, sau mỗi câu Kinh đều có nêu rõ điểm xuất xứ Phật dạy và có kèm theo sau đó là một mẫu chuyện, nêu rõ lý do chính yếu Phật nói ra câu Kinh đó.

4. Bản dịch của luật sư Đinh Sĩ Trang dịch đề là Lời Phật Dạy ấn hành tại Úc năm 1997. Ngoài ra, còn những quyển nào khác nữa, thì chúng tôi chưa được biết đến.”

Trong cuốn sách vừa mới xuất bản, về giá trị của Kinh Pháp Cú, cư sĩ Nguyên Giác đã trích dẫn Lời Tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma viết cho cuốn The Tibetan Dharmapada do Gareth Sparham dịch từ tiếng Tây Tạng sang tiếng Anh có đoạn như sau: “Pháp tu để an tâm và tăng thượng tâm do Đức Phật dạy từ hơn 2500 năm qua là một trong những phương pháp thành công để đạt được nội tâm an bình. Đó là một kho báu vô giá của nhân loại. Hiện nay, nhiều người mới bắt đầu tìm thấy trong lời Đức Phật dạy một giải thích về hoàn cảnh con người phù hợp với nhận thức riêng của họ về thực tại. Từ đó họ bắt đầu nương tựa vào Phật pháp để có nội tâm bình an mà họ muốn. Đã thấy rõ với họ rằng các thành đạt bên ngoài không mang tới hạnh phúc lâu dài, và rằng chính tham, sân và si trong tâm họ đang đứng ngăn cách giữa họ với hạnh phúc họ tìm kiếm – từ đó tăng thêm trong tâm họ sự tôn kính đối với sự thích nghi và chiều sâu của Phật pháp.”

 

Hiện nay có hai bản dịch Kinh Pháp Cú khá phổ biến trong giới tu sĩ và Phật tử Việt Nam, đó là:

-Bản dịch từ tiếng Pali của HT. Thích Minh Châu.

-Bản dịch từ tiếng Hán của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Bản dịch từ Pali sang tiếng Hán của chư  Tổ Trung Hoa có bốn bản. Không biết Thiền Sư Nhất Hạnh dịch từ bản nào?

Và vào Tháng 8/2019 vừa qua, cư sĩ Nguyên Giác ở Hoa Kỳ đã cho ấn hành một bản dịch từ tiếng Tây Tạng- tức bản thứ ba ra đời và được tác giả coi như đây là bản đầu tiên dịch từ nguồn gốc Tây Tạng. Đặc điểm của bản dịch Pháp Cú Tây Tạng (Kinh Udanavarga) này là gì?

-Cư sĩ Nguyên Giác đã căn cứ và đối chiếu 03 bản dịch từ tiếng Tây Tạng qua Anh Ngữ: 1) Cuốn A Collection of Verses from the Buddhist Canon xb năm 1883 của William Woodville Rockhill. 2) Cuốn The Tiberan Dhammapada xb năm 1983 của Gareth Sparham với lời giới thiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma như đã nói ở trên. 3) Cuốn The Dhammapada with the Udananvarga xb năm 1986 của Raghavan Iyer (1930-1995) là giáo sư tại University of California.

-Kinh Pháp Cú Nam Truyền dịch từ tiếng Pali của HT. Thích Minh Châu có 26 phẩm, 423 bài kệ, dịch thẳng qua Việt Ngữ  qua thể thơ Ngũ Ngôn-Tứ Tuyệt (năm chữ, bốn câu), không lời bình chú vì tác giả đã khéo dịch nên ý nghĩa của kệ quá rõ ràng.

-Kinh Pháp Cú Bắc Truyền hay Kinh Pháp Cú Hán Tạng do Thiền Sư Nhất Hạnh dịch từ tiếng Hán có 39 phẩm và 759 bài kệ , rồi chuyển sang thơ Việt với lời giảng nghĩa, cộng thêm những bài thơ, bài kệ của chính tác giả vào bản dịch này. Cho nên bản dịch của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh không phải là thuần bản dịch mà còn chen lẫn các lời giảng dạy của chính tác giả vào bên cạnh lời dạy của Phật mà thầy Thích Nhất Hạnh gọi là Bụt. Theo tôi được biết, chư Tổ dịch Kinh là dịch nguyên bản của Kinh và không bao giờ đặt lời giảng dạy của mình, sáng tác của mình bên cạnh lời dạy của Phật. Thí dụ: Dịch Kinh Kim Cang thì dịch nguyên Kinh Kim Cang chứ không thể trong Kinh Kim Cang có đoạn, “Tôi cũng nói như thế này…” tức là ngang hàng với Phật. Bên cạnh các bài kệ của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú lại có các bài kệ của thầy Nhất Hạnh với câu, “Tại Làng Mai tôi cũng có bài kệ như thế này…”

-Kinh Pháp Cú Tây Tạng dịch từ Anh Ngữ của Cư Sĩ Nguyên Giác có 33 phẩm, 1100 bài kệ được viết dưới dạng văn xuôi chứ không bằng thơ như hai bản dịch trên. Thí dụ: Trong Phẩm Vô Thường, đọan 3 viết như sau: “Than ôi! Những gì hợp rồi sẽ tan; những gì được tạo tác đều sẽ hư rã. Những gì sinh ra đều sẽ chết. Chỉ trong tịch lặng mới có hạnh phúc.” Đặc điểm của bản dịch này là mở đầu của mỗi Phẩm, tác giả đều có phần gọi là Ghi Nhận (tác giả khiêm tốn, không dám nói là giảng kinh) nhưng thực chất là nói rõ ý của Phật, nghĩa của Kinh và không đưa sáng tác của mình vào đây như thầy Nhất Hạnh. Thí dụ trong Phẩm Vô Thường, tác giả ghi nhận như sau: “Với Pháp Cú Tây Tạng, mở đầu là Phẩm Vô Thường, chỉ ra rằng từng khoảnh khắc trôi đi, chảy xiết, rằng từng khoảnh khắc tức khắc sinh và tức khắc tử và do vậy là vô ngã, và đời người y hệt như chữ viết do gậy vẽ trên nước, không hề có gì là Tôi và Của Tôi.”

            Ghi nhận cuối cùng và cũng là điều tôi thắc mắc là tại sao số Phẩm trong bản kinh gốc bằng Pali và Sanskrit lại khác nhau? Tạng Pali có 423 bài kệ, Hán Tạng có 759 bài kệ, còn Tây Tạng có 1100 bài kệ?

            Theo Bồ Tát Long Thọ, sách Udanavarga (Kinh Pháp Cú Tây Tạng) do các đại đệ tử của Phật tụ họp lại và đúc kết (kết tập) ngay khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Vào thời điểm này Ấn Độ chưa có chữ viết. Nếu các đệ tử của Phật có tụ họp, nhớ lại và đúc kết thì chỉ học thuộc lòng rồi sau đó chia nhau đi khắp bốn phương trời. Nhóm đi về phía Nam có thể là bao gồm các Đại Chúng Bộ, không phải là các bậc trí thức uyên bác cho nên trí nhớ kém, cho nên sau đó ghi lại bằng tiếng Pali (khoảng 200 năm sau) ít hơn. Còn nhóm đi lên phía Bắc có thể bao gồm Thượng Tọa Bộ cho nên ghi lại nhiều hơn bằng tiếng Sanskrit mà Tây Tạng thừa hưởng được bản kinh cổ này. Dầu sao đây cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi.

            Với sự ra đời của bản dịch Pháp Cú Tây Tạng của cư sĩ Nguyên Giác, sẽ góp phần vào việc phong phú hóa bộ kinh quan trọng này của Đức Phật. Với kiến thức của kẻ hậu học và sơ cơ, tôi không dám thẩm định giá trị của bản dịch mà chỉ ân cần giới thiệu trong tinh thần “Kiến Hòa Đồng Giải” mà thôi.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát,

Thiện Quả Đào Văn Bình

(California ngày 12/8/2019)

 

Cước chú: Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Ananda Viet Foundation xuất bản, Amazon phát hàn. Quý vị có thể vào amazon.com/books để mua sách.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự.
cô Nguyễn Quang Hồng Ân được phép ở lại Đức quốc vì lý do học vấn. Thân phụ cô Hồng Ân là ông Nguyễn Quang Hồng Nhân, từng bị tù 20 năm vì hoạt động đòi nhân quyền, cùng với vợ (thân mẫu cô Hồng Ân) đã bị Sở Di Trú Đức Quốc từ chối đơn xin tỵ nạn chính trị và đã trục xuất về Việt Nam.
Đêm văn nghệ kỷ niệm 40 Năm Quốc Tế Cứu Thuyền Nhân 20-7-1979 Geneva / 20-7-2019 California sẽ diễn ra tại Hội trường Việt Báo 14841 Moran St , Westminster, California 92843 vào tối Thứ Bảy 20/7/2019 trình diễn đúng 8 giờ tối. VÀO CỬA TỰ DO.
cuốn sách không chỉ khiến ta phải ưu tư về đời người, không chỉ làm ta ngưỡng mộ, rung cảm về một cá nhân, một Con Người, một đồng bào máu thịt, cuốn sách còn cho ta những cảm nhận vô cùng sống động tới mức như được sống hoặc được sống lại với một thế hệ thanh niên của dân tộc Việt Nam
chúng con xin cung kính gửi lá thư tri ân này đến Trưởng Lão Đại Sư Garchen Rinpoche, chư Tôn đức, quý Tăng và quý Ni, quý vị Mạnh thường quân, Bảo trợ viên, Tình nguyện viên và toàn thể đại chúng tham dự tại Fountain Valley, CA cũng như trên toàn thế giới qua đường truyền trực tiếp
Bài này sẽ viết về Thiền, phần lớn sẽ ghi về một số lời dạy của Đức Phật trong thiền pháp Thiền Tông, còn gọi là Thiền Đông Độ, hay Thiền Đạt Ma, hay Thiền Tổ Sư, và riêng tại Việt Nam còn gọi là Thiền Trúc Lâm.
Hôm đó, anh em cầm bút ở địa phương Mộng Lệ, theo hẹn hò vào lúc 6 PM, cũng sẽ “dàn quân” tới một quán ăn nhằm đón chào nhà thơ Trần Mộng Tú đi cùng phu quân từ Seatle mát mẻ sang thăm Bắc Mỹ đứng gió đôi ngày
Dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông do nhà thầu Trung Cộng thực hiện, cũng như rất nhiều dự án khác của Việt Nam, nhà thầu Trung Cộng luôn luôn có những trò gian manh, xảo trá, ma giáo giống nhau, đó là chậm tiến độ, đội vốn, công nghệ lạc hậu, vật liệu rẻ tiền nên không bảo đảm được chất lượng theo tiêu chuẩn.
Tối Thứ Bảy 20-7-2019 tại Hội trường Việt Báo trên đường Moran St sẽ có đêm kỷ niệm 40 Năm Quốc Tế Cứu Thuyền Nhân- VÀO CỬA TỰ DO, kính mời quí đồng hương tham dự.
Nhìn những khuôn mặt trẻ dấn thân tranh đấu cho quê hương, đất nước, từ quốc nội đến hải ngoại, xuất hiện trong buổi họp mặt ngày 10 tháng 6 vừa qua tại Sydney, Úc Châu. Đứng trên sân khấu, tôi có nói đùa với luật sư Lưu Tường Quang, một nhân sĩ lão thành, đã dầy công hoạt động và đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng tổ chức cộng đồng người Việt tỵ nạn lớn mạnh tại quốc gia này một câu là: “Có lẽ đã đến lúc chúng ta có thể yên tâm để về hưu đươc rồi anh nhỉ”?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.