Hôm nay,  

Mùa Vu Lan, đọc lại hồi ký tù

12/08/201911:34:00(Xem: 5955)

1.


Mùa Vu Lan này, có chút thời gian thư thả, tôi lại kệ sách lấy xuống hai cuốn sách cũ ngồi đọc. Đó là hai cuốn hồi ký tù: Ánh sáng và bóng tối của nhà văn Hoàng Liên và Đại học máu của nhà văn Hà Thúc Sinh. Mặc dù đã hơn hai mươi năm trôi qua, khi đọc lại hai tác phẩm với nội dung phơi trần sự thật về chế độ lao tù cộng sản từng gây nhiều chấn động lúc xuất hiện lần đầu, tôi vẫn thấy có cái gì rất mới hiển hiện trên từng trang sách. Hai mươi năm lẻ, từ khi hai cuốn sách ra đời, là thời gian khá dài để hàn gắn nhiều vết thương, ngoại trừ vết thương của những người tù trong cuộc mà tôi biết họ phải gánh chịu cho đến chặng cuối con đường họ đi. Nhưng, dù sao chăng nữa, tôi chẳng thể nào chối bỏ được giá trị văn học cũng như lịch sử của hai cuốn sách, cảm xúc cũ mới cứ thế tràn về lây lan tâm khảm tôi.

   Điều khá hiển nhiên, khi đọc hai cuốn sách này cùng lúc, là sự tương phản trong phong cách văn học, trong thể cách trần thuật và nhất là trong tâm cảnh được thể hiện của hai tác giả. Chính vì thế hiệu ứng của mỗi cuốn sách nơi người đọc không giống nhau. Đều nói về các trại giam tù “cải tạo,” đều nói về sự đối xử tàn bạo của chế độ tù, đều nói về những sự kiện nghịch lý, thậm chí phi lý, phi nhân của đời sống tù nhân cải tạo, nhưng một bên là sự chịu đựng thầm lặng, cố hết sức nuốt xuống tất cả mọi tủi hận đắng cay, cố bám víu lấy hy vọng, vẫn tìm ra cái đẹp –chiếc lá đu đủ nửa vàng nửa xanh nổi đường gân trông đẹp đẽ như một bức tranh, người tù trân trọng ghim nó lên tường căn xà lim bẩn thỉu rồi lui lại ngắm nhìn – trong lúc chờ đợi ngày về; còn một bên là sự phẫn nộ, không, đúng hơn là cơn uất hận bốc cháy bừng bừng và uất khí không có chỗ tiêu tán quay vào xâu xé tâm tư, thể xác người tù đến độ cả tâm tư lẫn thể xác hắn rách bươm. Thú thật, trong lúc đọc cuốn Ánh sáng và bóng tối, thần thái tôi khá là nhẹ nhàng, thanh thản; còn với cuốn Đại học máu, từ trang đầu đến trang cuối, lúc nào những sợi dây thần kinh trong não bộ tôi cũng căng thẳng tưởng chừng như sắp đứt.

   Tuy thế, sau khi gấp lại hai cuốn sách, tôi thấy sự tương phản đó chỉ có tính cách phiến diện. Nó mỏng mảnh như lớp băng mới đóng trên mặt nước hồ một ngày chớm đông nơi xứ tuyết. Đồng ý, mỗi tình huống, mỗi nhân cách, mỗi cảnh ngộ, mỗi khác, nhưng vẫn có cái gì sâu sắc, nhất quán hơn, thắt chặt hai cuốn sách vào nhau. Sự thật là bên dưới lớp vỏ ngoài có vẻ như khác biệt, các hồi ký tù đều mang chung một biểu tượng chắc nịch: đời sống là một thảm kịch không lối thoát. Trong đời sống tù, thảm kịch ấy được khuếch đại lên nhiều nghìn lần, trong một chiều kích thu nhỏ nhiều nghìn lần, và chúng ta nhìn vào, chứng kiến tấn bi kịch phi lý phơi bày một cách khốc liệt, đậm đặc, dưới dạng thể trần trụi, dơ bẩn nhất. Cái xấu và cái ác thi nhau lấn át cái đẹp và cái tốt lành. Kỳ thực, đời sống chúng ta đang sống là một nghịch lý hết thuốc chữa, một nghịch lý chung cuộc, nói theo ngôn ngữ của nhà văn Milan Kundera.


2.


Thế kỷ XX thường được người ta mệnh danh là thời hiện đại với tất cả những phát triển tột bực của khoa học, kỹ thuật; của tư tưởng, học thuật, nghệ thuật các ngành. Nhưng tôi tự hỏi những bứt phá đó đã đem lại gì cho con người ngoài hai cuộc thế chiến, một Lò Thiêu và hàng chục những xung đột đẫm máu lớn nhỏ khác trên thế giới khiến “đống xương Vô Định” không thể gọi là đã “cao bằng đầu” nữa mà phải gọi là đã “cao bằng đỉnh ngọn Everest.” Hãy nhìn vào nước Nga, riêng nước Nga thôi, dưới thời Xô Viết, từ triều đại Lenin, sang triều đại Stalin cho đến thời điểm gần đây, có bao nhiêu người chết vì bị bắt bớ, giam hãm, tù đày, thủ tiêu? Khó có thể tìm ra con số chính xác, nhưng từ kết tính phỏng định dựa trên những tài liệu khả tín do sử gia Nga Roy Medvedev công bố năm 1988 thì người ta biết có khoảng 40 triệu công dân Nga bị bắt giam và 50 phần trăm những người bị bắt ấy, tức 20 triệu, không bao giờ thấy mặt trở về nhà. Nếu cộng con số đó với số người thiệt mạng trong thế chiến II, gồm 16 triệu lính và 11 triệu dân, thì chỉ trong khoảng thời gian già nửa thế kỷ, nước Nga thiệt mất 47 triệu công dân! Nếu mỗi ngày một nghìn người Nga bị đem ra hành quyết, đều đặn ngày này qua ngày khác, thì phải mất 130 năm mới giết hết chừng đó con người! Quả là kinh khiếp!

   Nhắc đến thế chiến II, tôi không khỏi thắc mắc là hai ba trăm năm nữa, khi nhìn lại quá khứ, liệu các sử gia lúc đó đã hết điên đầu chưa với câu hỏi tại sao nước Đức, một quốc gia từng cống hiến cho nhân loại những bậc vĩ nhân như Goethe, Bach, Beethoven, Planck… lại có thể đẻ ra một con quái vật như Adolph Hitler. Và, chắc họ lại càng điên đầu hơn với hành động điên cuồng không thể giải thích nổi từ bất kỳ góc độ nào của một con quái vật khác tên Pol Pot. Có lẽ họ chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm rồi nhìn nhau gọi thế kỷ XX là một thế kỷ điên khùng. Chưa bao giờ thế giới lại có quá nhiều những Johann Moritz của “Giờ thứ 25” như thế!



   Con người không va chạm với con người khác mà với những thế lực điên khùng, những thế lực vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ. Con người cảm thấy tê cứng, bất lực trước những thế lực đó. Chúng chế ngự, kiểm soát, tỏa chiết mọi hành vi và tư tưởng của hắn. Chúng phủ trùm lên đời sống hắn. Franz Kafka đã nhìn ra viễn ảnh đen tối này từ những năm đầu của thế kỷ XX và chí ít nó được biểu hiện trong ba tác phẩm tiểu thuyết Amerika, Vụ xử ánToà lâu đài của ông. Viễn ảnh đó tái hiện, một cách hiện thực hơn, rõ rệt hơn qua ẩn dụ, trong những tác phẩm của nhà văn người Anh George Orwell như cuốn 1984 (viết năm 1948) và Trại súc vật. Đừng bảo chúng ta không được cảnh báo. Khả năng tiên tri không hẳn chỉ thi ca mới có, nó còn hiện hữu trong tiểu thuyết.


3.


Ánh sáng và bóng tối – Đại học máu. Những nhan đề sách nghe sao bi thương quá. Bi phẫn nữa. Bi thương và bi phẫn như đoạn sử vừa qua trang của dân tộc.

   Đã qua nhưng không thể quên. Bởi nếu chúng ta quên nó, nó sẽ tái diễn với mức độ điên cuồng hơn. Và đó là lý do tại sao tôi vẫn say mê đọc lại sách vở viết về cuộc chiến tranh khốc hại rất đáng bị phỉ nhổ đó.

   Đọc lại hai cuốn sách của hai tác giả Hoàng Liên và Hà Thúc Sinh, tôi không thấy thù ghét hay chán ghét hay khinh bỉ ai nữa. Tất cả đều là nạn nhân, nạn nhân của những thế lực điên khùng trong một kỷ nguyên điên khùng. Giờ đây, tôi rút ra từ hai tập sách rất quý này một điều mà trong tiếng Anh người ta gọi là “human spirit.”

   Human spirit. Bạn có thể dịch cụm từ này sang tiếng Việt là tinh thần, hoặc khí thế, hoặc sự can trường của con người. Tất cả đều đúng nghĩa. Đúng nghĩa nhưng chưa đủ nghĩa, theo tôi.

   Khi điểm một cuốn sách (hay một cuốn phim) xuất sắc, thuật chuyện con người hay nhóm người nào đó, bằng tất cả lòng can đảm cộng với sức mạnh tinh thần cũng như thể xác của mình, vượt qua mọi nghịch cảnh để đạt đến ước nguyện sau cùng (hoặc giả cũng có thể hắn ta bỏ mình sau những cố gắng tuyệt vọng), nhà điểm sách (hay điểm phim) thường buông một câu kết luận có tính ước lệ đại loại như cuốn sách (hay cuốn phim) này đã nói lên được cái “human spirit.” Ngay trong lời nhà xuất bản in ở bìa sau cuốn Một ngày trong đời của Ivan Denisovich của nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn – một tác phẩm tiểu thuyết nhưng nội dung không khác lắm so với hai cuốn hồi ký của hai nhà văn Việt Nam – tôi cũng tìm thấy cụm từ “human spirit” này. Với tôi, “human spirit” không hẳn chỉ đơn thuần là tinh thần, khí thế hay sự can trường của con người, nó còn là biểu hiệu cho “lòng khao khát muốn sống và được sống như con người.”

   Sống như con người có dễ không? Tôi nghĩ nó không dễ chút nào. Có lẽ không ai biết điều đó rõ hơn nhà thơ Boris Pasternak của nước Nga. Chương cuối tác phẩm tiểu thuyết Dr. Zhivago của ông là 24 bài thơ bất hủ, mà câu cuối trong bài thơ Hamlet là một châm ngôn: “Sống cho trọn kiếp nào phải trò trẻ con.” Yurii, bản thân chàng đã phải kinh qua biết bao khổ ải, đớn đau – hết cách mạng đến nội chiến – nhưng cuối cùng khi về lại Moskva thì chàng mất hết. Ngôi nhà xưa không còn và vợ con chàng đã di tản ra nước ngoài trước đó. Còn Lara thì sao? Nào ai biết được chuyện gì xảy đến cho nàng sau khi nàng bị ép buộc đi theo lão già Komarovski khốn khiếp và sau đó, cùng với đứa con gái nhỏ, lê lết hết trại giam này đến trại giam kia nơi vùng Siberia tuyết giá? Họ là những con người sống giữa một kỷ nguyên điên khùng và bởi thế mặc dù ước nguyện duy nhất của họ chỉ là xin được sống như con người, một ước nguyện cực kỳ giản dị và chính đáng, nhưng chẳng ai thèm đoái hoài, chẳng ai thèm quan tâm. Họ cất tiếng kêu nhưng ai là kẻ lắng nghe tiếng kêu của họ khi xung quanh là bốn bức tường kín như bưng của căn xà lim chật hẹp, nằm im lìm thoi thóp bên trong hàng rào kẽm gai chất chồng lớp lớp với những họng súng đen ngòm từ trên tháp canh lăm lăm chĩa xuống và xa hơn nữa, ngoài kia là núi rừng trùng điệp. Chỉ còn tiếng thở dài giữa đêm dài yên ắng đến rùng rợn của một kỷ nguyên tối đen bi thảm, tiếng thở dài thay lời cầu nguyện cho linh hồn nào đó vừa từ giã cõi đời.

   Tôi nhìn thấy hình ảnh của Dr. Zhivago, của người tù Ivan Denisovich Shukhov – ảm đạm, thê lương trong buổi hoàng hôn đen xám của nhân loại – xuyên qua hai cuốn hồi ký tù của hai nhà văn Việt Nam: Hoàng Liên trong Ánh sáng và bóng tối; Hà Thúc Sinh trong Đại học máu.


– Trích tạp bút Chỉ là đồ chơi của Trịnh Y Thư, Văn Học Press tái bản, 2019



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Là những nữ sinh của một trong ba trường nữ trung học công lập lớn nhất của miền Nam Việt Nam trước 1975 mang tên của một vị công thần giúp vua Gia Long khởi nghiệp xây dựng đất nước, chiều ngày 7 tháng 9 năm 2019 tại Orange County, những chiếc áo dài màu xanh lá cây đẹp mắt của các các chị cựu nữ sinh Lê Văn Duyệt đang tung bay trước nhà hàng Diamond Seafood Palace.
Thế kỷ vừa qua đã chứng tỏ là một thế kỷ đẩm máu nhất trong lịch sử và thế kỷ hiện nay đang bắt đầu là một thế kỷ của chiến tranh.
Việt Nam đã phạm một sai lầm chiến lược là từ bỏ quyền phủ quyết / Veto Power, một điều khoản hết sức quan trọng đã có trong Hiệp Định Ùy Ban Sông Mekong 1957 (Mekong River Committee) vì Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn
Buổi lễ mùa Vu Lan, Chủ nhật 11 tháng 8 năm 2019, tại chùa Đạo Tràng Nhân Quả, ca khúc Dâng Hoa Cúng Phật đã thánh thót vang lên trong không khí trang nghiêm của thời khắc cầu nguyện
Và vào Tháng 8/2019 vừa qua, cư sĩ Nguyên Giác ở Hoa Kỳ đã cho ấn hành một bản dịch từ tiếng Tây Tạng- tức bản thứ ba ra đời và được tác giả coi như đây là bản đầu tiên dịch từ nguồn gốc Tây Tạng.
Tay súng giết người ở El Paso chẳng hạn, đã ra một tuyên ngôn kêu gọi người Mỹ trắng chống lại sự “xâm lăng” của người Mễ. Hẳn không phải là sự tình cờ khi một vài nhà chính trị, điển hình nhất là Tổng thống Trump, luôn mồm phỉ báng các nhóm dân thiểu số như người Mễ và Mỹ La-tinh, và thậm chí từng kêu gọi bạo động với những nhóm này
Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã công bố một văn bản có tuổi thọ 2,000 năm về Phật Giáo thời kỳ sớm sủa hôm Thứ Hai, 29 tháng 7 năm 2019
Tối 26 tháng 7 năm 2019, tại Văn phòng Liên Phật Hội (United Buddhist Foundation) số 9831 Cheshire Ave, Westminster, CA 92683, Ban Điều Hành Liên Phật Hội đã chính thức công bố và đưa vào hoạt động Trang hỗ trợ người dùng website với tên miền pgvn.org (Viết tắt 4 chữ Phật giáo Việt Nam).
Trên thực tế, liệu có ai nói với Donald Trump là nếu ông không thích nước Mỹ (ông luôn mồm chỉ trích các chính sách của Mỹ ở các thời tiền nhiệm) thì ông về nước ông đi? Hoặc nếu không phải là Donald Trump mà là các người da trắng khác, liệu có ai nói thế không?
Kể trong Đêm nhạc 40 năm quốc tế cứu thuyền nhân Thứ Bảy 20/7/2019 tại Hội Trường Việt Báo, Westminster, Calif. Gia đình Phan Trung Kiên trên một chiếc ghe nhỏ với 24 người trên ghe (trong đó gia đình Kiên gồm 5 cha con) đã rời bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng) vào khoảng 3 giờ sáng ngày 3 tháng 7 năm 1981


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.