Hôm nay,  

COVID-19 Đã Dạy Chúng Ta Những Gì Để Ứng Phó Với Đại Dịch Trong Tương Lai?

23/02/202400:00:00(Xem: 4576)

Covid
Nhìn lại đại dịch COVID-19 để thấy chúng ta đã làm tốt những gì, còn những gì cần khắc phục, và làm sao để chuẩn bị ứng phó thật nhanh với các đại dịch mới trong tương lai. (Nguồn: pixabay.com)
 
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế.
 
Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
 
Mặt khác, các viên chức y tế cộng đồng đã bất ngờ rơi vào thế lưỡng nan với các quy định bảo vệ tự do cá nhân. Khoảng 30 tiểu bang hiện đã thông qua luật hạn chế các cơ quan y tế áp dụng các biện pháp bảo vệ mà không có sự cho phép của các nhà lập pháp tiểu bang. Lawrence Gostin, chuyên gia luật sức khỏe tại Đại học Georgetown, nói với tờ Washington Post: “Một ngày nào đó, khi chúng ta phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng toàn cầu thực sự tồi tệ, và một đại dịch còn nguy hiểm hơn nhiều so với COVID, và chúng ta kỳ vọng là chính phủ sẽ bảo vệ chúng ta, nhưng khi đó họ cũng đành bó tay bất lực. Chúng ta sẽ chết với các quyền mà mình đòi hỏi – thứ chúng ta muốn là tự do chứ không phải sự bảo vệ.”
 
Những gì đã dẫn đến tình hình hiện nay? Vào năm 2020, Paul Offit là bác sĩ thuộc Khoa Truyền Nhiễm tại Bệnh viện Trẻ em Philadelphia. Sau đó, ông được Francis Collins, trưởng Viện Y Tế Quốc Gia, mời tham gia một nhóm tư vấn để hướng dẫn cho các công ty dược phẩm về cách chế tạo và thử nghiệm vắc xin COVID. Offit cũng trở thành thành viên có quyền biểu quyết trong Ủy Ban Cố Vấn Vắc Xin của Cơ quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm (FDA) kể từ năm 2017.
 
Với vai trò trong các cơ quan này, Offit thường được mời xuất hiện trên các chương trình tin tức truyền hình và các bản tin sáng để giải thích cho những sự kiện đang diễn ra hàng ngày. Tuy nhiên, trong thời gian đại dịch hoành hành, Offit và các viên chức khác nhận ra rằng không phải lúc nào họ cũng đúng, vì họ thường phải đưa ra các quyết định khi chưa có đầy đủ thông tin. Đôi khi họ cũng đưa ra những khuyến nghị mâu thuẫn, tạo ra sự hiểu lầm và bối rối trong cộng đồng, làm giảm độ tin cậy vào các nguồn thông tin từ chuyên gia hoặc các tổ chức y tế.
 
Nhưng những bài học kinh nghiệm từ SARS-CoV-2, loại virus đã giết chết khoảng 7 triệu người trên toàn thế giới, có thể sẽ giúp chúng ta chuẩn bị tốt hơn để ứng phó với một đợt đại dịch mới trong tương lai.
 
Tiêm chủng toàn cầu là lợi ích chung
 
Hoa Kỳ có đầy đủ năng lực công nghệ và nguồn lực để triển khai tiêm chủng toàn cầu, và việc đó không hẳn là hoàn toàn vì nhân đạo. SARS-CoV-2 sẽ tiếp tục lưu hành và tạo ra các biến thể mới trong nhiều thập niên tới. Vào cuối năm 2023, gần một phần ba dân số thế giới chưa được tiêm một liều vaccine COVID nào. Bất kỳ quốc gia nào có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng thì đó cũng chính là nguy cơ cho tất cả các quốc gia khác. Không ai được an toàn cho đến khi mọi người đều an toàn.
 
Nghiên cứu khoa học là một quá trình diễn ra liên tục và không ngừng
 
Các khuyến nghị về điều trị và phòng ngừa COVID đã liên tục phát triển và thay đổi theo thời gian, giúp chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn về cách vi-rút lây truyền và những đối tượng có nguy cơ cao nhất. Ban đầu, người ta được khuyến cáo rửa tay liên tục, lau sạch các bề mặt thường xuyên tiếp xúc (bàn, ghế, tay nắm cửa…) và đồ đạc mua sắm từ cửa hàng về. Tuy nhiên, theo thời gian, người ta dần hiểu rõ rằng việc rửa tay và lau chùi đồ đạc có ít tác dụng hơn so với việc đeo khẩu trang. Các khoa học gia, bác sĩ và viên chức y tế cộng đồng sẽ cần phải cẩn thận đưa ra thông báo cho công chúng, rằng tất cả các khuyến nghị đều dựa trên thông tin được biết vào thời điểm đó, và rằng thông tin có thể sẽ thay đổi theo thời gian. Nếu không, tính linh hoạt của kiến thức khoa học sẽ tiếp tục khiến công chúng bối rối và mất lòng tin.
 
Các chiến dịch cấp cơ sở có thể xây dựng niềm tin thực sự trong cộng đồng
 
Tuy rằng việc ứng phó với thông tin sai lạc ở quy mô quốc gia hoặc tiểu bang là gần như không thể, nhưng ở cấp địa phương thì hoàn toàn có thể. Trong thời kỳ đại dịch, Ala Stanford đã chứng minh điều này. Bà và Hiệp Hội Bác Sĩ Da Đen Chống COVID-19 (Black Doctors COVID-19 Consortium) đã đến từng nhà để cung cấp nguồn thông tin nhất quán và đáng tin cậy cho người dân ở Bắc Philadelphia. Trong cộng đồng có nhiều ác cảm với việc tiêm phòng này, bà và các đồng nghiệp đã trấn an và giáo dục hơn 50,000 người để họ tự giác tiêm chủng cho bản thân và con cái mình.
 
Tách biệt chính trị đảng phái và khoa học sẽ cứu sống được nhiều người
 
Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, việc tử vong do một căn bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin lại được phân chia theo các đảng phái chính trị. Tính đến tháng 12 năm 2022, có đến 37% cử tri thuộc Đảng Cộng Hòa không tiêm vaccine, trong khi ở Đảng Dân Chủ thì con số này là 9%. Một nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các quận ở các bang do Đảng Cộng Hòa kiểm soát có tỷ lệ tử vong do COVID cao hơn. Sức khỏe cộng đồng luôn có yếu tố chính trị, vì có liên quan đến vấn đề phân phối nguồn tài nguyên, cũng như các giá trị và quan điểm. Tuy nhiên, sức khỏe cộng đồng không nhất thiết phải trở thành một vấn đề đảng phái, đây là điểu mà các đảng chính trị cần phải luôn ghi nhớ.
 
Ngăn chặn sự lan truyền thông tin sai lạc là rất quan trọng
 
Đây là công việc khó khăn và gian truân. Cũng giống như ta đang sử dụng một cái ly nhựa để tát nước lũ lụt do Bão Katrina gây ra. Đầu đại dịch, các viên chức y tế và chính phủ đã tuyên bố rằng COVID là do con người tạo ra – điều chưa từng xảy ra trong lịch sử. Tuy nhiên, nếu áp dụng nguyên tắc của Carl Sagan rằng “những tuyên bố bất thường cần có bằng chứng phi thường,” thì đây là một tuyên bố bất thường, không có bằng chứng nào mà chỉ có âm mưu và ám chỉ, cho nên đây không phải là thông tin chính xác dựa trên bằng chứng khoa học.
 
Luôn ưu tiên bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương nhất
 
Mọi người ở mọi độ tuổi đều có khả năng bị nhiễm COVID, nhưng không phải ai cũng dễ bị bệnh nặng khi nhiễm vi rút. Tỷ lệ tử vong ở người cao niên cao hơn khoảng một ngàn lần so với trẻ em; có đến 40% số trường hợp tử vong do COVID-19 ở Hoa Kỳ xảy ra trong các viện dưỡng lão. Nhiều nghiên cứu về các liều vắc xin tăng cường (booster) chỉ ra rằng nhóm người được hưởng lợi nhiều nhất từ các liều booster bao gồm những người trên 75 tuổi, những người có nhiều vấn đề về sức khỏe, những người bị suy giảm miễn dịch và phụ nữ mang thai. Chừng nào COVID còn lưu hành, chúng ta còn phải ưu tiên bảo vệ bốn nhóm đối tượng này.
 
Phương pháp chữa bệnh không nên tệ hại hơn căn bệnh
 
Trong giai đoạn đầu của đại dịch, chiến lược duy nhất để kiểm soát COVID là hạn chế tiếp xúc giữa người với người. Chúng ta đóng cửa hàng loạt công ty và trường học. Chiến lược này đã có những hậu quả tiêu cực, đặc biệt là đối với trẻ em. Trẻ em đã chịu nhiều tổn thương và thiệt thòi do không được đi học và giao tiếp xã hội. Tác động của những thiệt hại này sẽ còn âm ỉ trong nhiều năm tới. Việc cho trẻ em đi học trở lại lẽ ra cũng nên được quan tâm nhiều như việc cho mọi người đi làm trở lại. Tóm lại, trong việc đối phó với đại dịch, chúng ta cần cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo rằng các biện pháp giải quyết sẽ không khiến cho tình hình trở nên xấu hơn.
 
Đoàn kết là sức mạnh
 
Có lẽ điểm sáng nhất trong đại dịch là Operation Warp Speed. Chỉ 11 tháng sau khi SARS-CoV-2 được cô lập, hai loại vắc xin đã được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng lớn và được xác nhận là hiệu quả và an toàn. Sau đó, Tòa Bạch Ốc đã hợp tác thành công với các hiệu thuốc và bệnh viện để phân phối và kiểm soát vắc xin, cũng như cung cấp bộ dụng cụ xét nghiệm và thuốc điều trị vi rút. Đó là một nỗ lực đáng kinh ngạc và là dấu hiệu tích cực cho khả năng của chúng ta trong việc tạo ra và phân phối vắc xin chống lại các loại vi rút gây đại dịch trong tương lai.
 
Hoa Kỳ có một lịch sử lâu dài về sự đoàn kết. Trong những năm 1940 và 1950, bệnh bại liệt là một căn bệnh đáng sợ và gây hậu quả nặng nề. Người Mỹ đã phản ứng bằng cách góp tiền cho Tổ chức chống bệnh bại liệt National Foundation for Infantile Paralysis, hay còn gọi là March of Dimes. Tổ chức này đã nhận được hàng triệu đô la, nhờ đó phát triển ra vắc-xin chống bại liệt. Và cũng nhờ vào nỗ lực này, bệnh bại liệt đã biến mất khỏi hầu hết mọi nơi trên thế giới.
 
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, những chiếc máy bay bị khủng bố đánh cướp và điều khiển đâm vào Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, Ngũ Giác Đài và một khu vực ở Pennsylvania, giết chết 2,977 người. Cảnh sát và lính cứu hỏa đã nhanh chóng đến hiện trường, lao vào các tòa nhà đang sập đổ để cứu người. Mọi người ôm nhau khóc, cùng nhau cầu nguyện, đoàn kết lại trước thảm kịch quốc gia. Để tăng cường sự đoàn kết này, Tổng thống George W. Bush đã nói rõ rằng sự kiện này không liên quan gì đến người Mỹ theo đạo Hồi. Ông nói: “Khủng bố không phải là đức tin chân chính của đạo Hồi.” Một lần nữa, tất cả chúng ta cùng nhìn về một hướng.
 
Ngày 20 tháng 1 năm 2020, Hoa Kỳ phát hiện trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 đầu tiên. Kể từ đó, loại virus này đã cướp đi sinh mạng của hơn một triệu người dân Hoa Kỳ. Với công nghệ mới, chúng ta đã tạo ra vắc xin an toàn và hiệu quả trong thời gian ngắn kỷ lục. Bác sĩ và y tá đã phải tăng cường làm việc, quần quật suốt ngày đêm, thậm chí còn không có đủ đồ bảo hộ. Đó là một cuộc chiến chung. Và chúng ta đã cùng đồng lòng vượt qua thảm họa chung của đất nước, thấu hiểu tinh thần ‘một người vì mọi người.’
 
Sức mạnh và khả năng để vượt qua khó khăn, thách thức vẫn luôn sẵn có bên trong chúng ta. Và khi hình dung mình là một phần của điều gì đó vĩ đại hơn, chúng ta sẽ khai thác được những phẩm chất tốt đẹp nhất trong mỗi người.

Nguyên Hòa biên dịch
 
Nguồn: “COVID-19 has tested us. Will we be ready for the next pandemic?” được đăng trên trang Nationalgeographic.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rụng tóc (alopecia) thường xảy ra trên da đầu, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể. Rụng tóc là một tình trạng phổ biến và không phải là vấn đề đáng lo ngại. Ở Úc, khoảng một nửa đàn ông ở độ tuổi 50 thường có dấu hiệu hói đầu, và hơn 1/4 phụ nữ trong cùng độ tuổi cho biết tóc họ bị thưa đi. Thường thì vấn đề này là do di truyền. Nếu thấy mình đang bị rụng tóc và đang lo lắng về điều đó, quý vị nên đi khám hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để được chẩn đoán trước khi thử bất kỳ phương pháp điều trị nào. Rất nhiều sản phẩm được quảng cáo là có khả năng đảo ngược tình trạng rụng tóc, nhưng lại có rất ít sản phẩm đã được kiểm nghiệm khoa học về hiệu quả.
Hàm răng của bệnh nhân có vẻ như được chăm sóc khá tốt, nhưng nha sĩ James Mancini, giám đốc lâm sàng của Trung Tâm Nha Khoa Meadville ở Pennsylvania, cảm thấy phần nướu có vấn đề. Tình cờ, Mancini có quen biết với bác sĩ của bệnh nhân đó nên đã liên lạc để chia sẻ sự lo ngại – và rồi họ ‘lần’ ra bệnh thật! Mancini cho biết: “Thực ra, Bob mắc bệnh ung thư bạch cầu (leukemia). Dù ông ấy không thấy mệt mỏi hay có các triệu chứng khác, nhưng vấn đề xuất hiện ở phần răng miệng. Khi bác sĩ của Bob biết được tình trạng, Bob đã được điều trị ngay lập tức.”
Thời nay, nhiều người thường bị đau cổ vai gáy, lại còn kèm theo cả đau đầu. Nỗi đau này có thể gây ra thêm nỗi đau khác, không chỉ về mặt vật lý mà còn về mặt tâm sinh lý. Xét về mặt sinh lý, ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những cơn đau ở cổ thường khiến cho người ta bị thêm chứng đau đầu. Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí The Journal of Headache and Pain là nghiên cứu đầu tiên cung cấp những dấu hiệu khách quan về sự liên quan của cơ bắp với tình trạng đau nhức đầu.
Một nghiên cứu mới cho thấy thiếu ngủ không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng và hiệu suất làm việc trong ngày, mà còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí JAMA Network Open, so với những người ngủ từ 7 đến 8 tiếng mỗi ngày, những người ngủ ít hơn 6 tiếng/ngày có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 cao hơn khi về già.
Khi nói đến việc giữ cho xương khỏe mạnh, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến vitamin D, chất dinh dưỡng giúp cơ thể hấp thụ lượng canxi cần thiết để giúp cho bộ xương chắc khỏe. Nhưng dù rằng vitamin D đúng là một chất dinh dưỡng thiết yếu, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tầm quan trọng của các loại vitamin khác trong việc chống gãy xương (fractures) và bệnh loãng xương, hay bệnh xương xốp (osteoporosis).
Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, không có mùi và cũng chẳng có vị, những lượng nhỏ chì (lead) hiện diện trong các vật dụng mà chúng ta sử dụng hàng ngày, trong nhà chúng ta ở, và cả trong nước chúng ta uống. Thậm chí, chì còn xuất hiện trong các bình nước tái sử dụng, như việc phát hiện ra chì trong đáy ly Stanley. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều tranh cãi và khơi dậy sự chú ý của người tiêu dùng đối với một vấn đề đã tồn tại từ rất lâu.
Hôm cuối tháng Hai vừa qua, Tòa Tối cao của bang Alabama phán quyết rằng: “Phôi đông lạnh là trẻ em.” Tuyên án này tuy chỉ có uy lực theo Hiến pháp và luật pháp ở Alabama, tuy nhiên, sự bắt đầu này tạo ra tiền lệ cho tất cả những vụ án vế sau của tất cả các bang khác và kề cả hiến pháp Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến thời kỳ cho phép phá thai. Nhiều người và nhiều cơ quan sẽ phải chịu trách nhiệm, sẽ bị trừng phạt nếu làm hỏng phôi thai, như một tội giết trẻ em. Phán quyết của Alabama, được công bố hôm thứ Sáu, bắt nguồn từ hai vụ kiện của ba nhóm cha mẹ đã trải qua thủ tục thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) để sinh con và sau đó chọn đông lạnh số phôi còn lại. Giáo sư Nicole Huberfeld của Trường Luật Đại học Boston cho biết, đó cũng là một quyết định có thể gây ảnh hưởng lan rộng đến việc sử dụng các phương pháp điều trị sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Thử tưởng tượng rằng chỉ cần uống một viên thuốc là quý vị sẽ tràn trề năng lượng, da dẻ mịn màng, và tim mạch khỏe re? Các viễn cảnh hấp dẫn này vẫy gọi mãnh liệt mỗi khi chúng ta dạo quanh qua các quầy hàng bán các loại thực dược phẩm bổ dưỡng trong hiệu thuốc, từ các loại viên uống dầu cá (fish oil), bột collagen (collagen powder), kẹo bổ sung ma-giê và muôn hình vạn trạng các loại vitamin.
Hơn một thập niên từ sau cái chết bất ngờ của mẹ, Sehrish Sayani mắc chứng rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD). Suốt những năm đó, những cơn hoảng loạn dữ dội nhất đã giảm dần, nhưng các triệu chứng như nghi ngại thái quá (hypervigilance), trở nên đặc biệt nhạy cảm với một số yếu tố và những giấc ngủ chập chờn đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống của cô.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.