Hôm nay,  

Khả Năng Giữ Thăng Bằng Tốt Có Phải Là Bẩm Sinh?

20/10/202300:00:00(Xem: 3112)
  
giu thang bang
Con người học cách giữ thăng bằng khi lớn lên – và khả năng giữ thăng bằng bằng có thể cải thiện cách luyện tập. (Nguồn: pixabay.com)
 
Chẳng có ai vừa ra khỏi bụng mẹ là đã biết trượt ván, lướt sóng hay thậm chí là đứng kiễng chân. Không giống như các loài động vật hữu nhũ khác, con người không có khả năng giữ thăng bằng khi mới sinh – không có em bé sơ sinh nào vừa đẻ ra là đã biết đi hoặc đứng. Trước khi có được những khả năng đó, trẻ sơ sinh sẽ phát triển thị giác, thính giác, cơ, xương và não. Quá trình này mất nhiều tháng và thậm chí là nhiều năm đối với một số hoạt động.
 
Thông thường, trẻ bắt đầu biết lật khi được khoảng 6 tháng tuổi, tầm 9 tháng thì biết bò, và đến thôi nôi là có thể đứng. Đến 18 tháng tuổi, hầu hết trẻ đều có thể tự bước đi và leo cầu thang. Lên 2 tuổi, trẻ mới chập chững (toddlers) có thể làm một số việc phức tạp hơn, chẳng hạn như đá banh. Đến khi lên 3, hầu hết trẻ đã có thể chạy ‘ào ào’ và lên xuống cầu thang với một chân bước trên mỗi bậc. Một số trẻ sẽ đạt được những cột mốc này nhanh hơn, một số khác lại chậm hơn; và đó là điều hoàn toàn bình thường.
 
Thăng bằng là một kỹ năng
 
Nếu chú ý, ta sẽ thấy có một số người giữ thăng bằng rất giỏi. Họ có thể khiêu vũ rất đẹp, nhảy dây và nhào lộn ngon lành. Nhưng họ đâu có khả năng này khi mới chào đời. Họ đã tập luyện. Cân bằng là một kỹ năng – ta càng thực hành bất kỳ kỹ năng nào nhiều thì càng trở nên nhuần nhuyễn, thông thạo hơn; dù một số người có thể thành thạo kỹ năng đó một cách tự nhiên hơn.
 
Cơ thể chúng ta 3 hệ thống phải phối hợp với nhau để giúp giữ trạng thái cân bằng tốt: hệ thống thị giác (visual system), hệ thống cảm giác cơ thể (somatosensory system) và hệ thống tiền đình (vestibular system).
 
Hệ thống thị giác (visual system) bao gồm mắt, các dây thần kinh thị giác (optic nerves) kết nối mắt với não, và vỏ não thị giác (visual cortex). Trẻ mới chào đời không thể nhìn xa, chúng chỉ có thể nhìn thấy ở khoảng 10 đến 12 inch. Khi hệ thống thị giác của trẻ phát triển, bộ não học cách giải quyết các thông tin thị giác để giúp trẻ di chuyển và giữ thăng bằng tốt hơn.
 
Hệ thống cảm giác cơ thể (somatosensory system) ghi lại các cảm giác được phát hiện bởi các cơ, khớp, da và các mô cơ thể kết nối chúng, được gọi là mạc cơ (fascia). Những nhận thức về xúc giác, áp lực, đau đớn, nhiệt độ, vị trí, chuyển động và rung động truyền qua các con đường trong tủy sống, thân não và nhân đồi não (thalamus) – một cấu trúc nhỏ hình quả trứng ở trung tâm bộ não – nơi chúng được tích hợp và phân tích.
 
Thí dụ, khi trẻ cố gắng đứng vững, não của trẻ sẽ giải quyết các cảm giác đến từ bàn chân, cẳng chân và bàn tay để giúp trẻ giữ thăng bằng.
 
Hệ thống tiền đình (vestibular system), là hệ thống thính giác và thăng bằng của cơ thể, bao gồm năm cơ quan riêng biệt trong tai. Bên trong các cơ quan có chất lỏng, chất lỏng này sẽ chuyển động khi cơ thể và đầu chuyển động. Khi chất lỏng di chuyển, nó sẽ gửi tín hiệu đến não, giúp chúng ta nhận thức được vị trí của mình để có thể giữ thăng bằng.
 
Hệ thống thần kinh trung ương sử dụng thông tin đến từ ba hệ thống trên, tạo ra các tín hiệu được gửi trở lại các cơ thích hợp trong cơ thể để giúp duy trì sự cân bằng của cơ thể.
 
Những người khỏe mạnh dựa vào thông tin cảm giác cơ thể khoảng 70%, 20% vào thông tin hệ thống tiền đình và 10% vào thị giác để duy trì sự cân bằng trên các bề mặt chắc chắn.
 
Xảy ra điều gì đó bất thường ở bất kỳ một trong ba hệ thống này có thể ảnh hưởng đến việc giữ cân bằng. Nhưng khi một hệ thống bị ảnh hưởng, hai hệ thống còn lại vẫn có thể được đào tạo để bù đắp.
 
Bị mất thăng bằng
 
Có nhiều cách khiến ta bị mất thăng bằng. Khi ta đứng trên mặt băng trơn trượt, các cơ quan cảm giác ở bàn chân không thể gửi tín hiệu thích hợp đến bộ não đủ nhanh để não kịp kích hoạt các cơ giúp duy trì thăng bằng.
 
Hoặc khi mò mẫm trong bóng tối, ta sẽ dễ có nguy cơ bị té ngã bởi vì não nhận được quá ít thông tin hình ảnh về môi trường xung quanh. Những người mắt kém hoặc mù sẽ học cách dựa vào hai hệ thống giác quan còn lại nhiều hơn để duy trì sự thăng bằng.
 
Khi có thứ gì đó khiến ta mất thăng bằng, chẳng hạn như bị va vấp khi đi hoặc chạy, nó có thể gây ra hiện tượng gọi là “phản xạ tiền đình” (vestibulospinal reflex). Hệ thống tiền đình và cảm giác cơ thể gửi tín hiệu đến não, từ đó kích hoạt các cơ thích hợp để giúp chúng ta khỏi bị ngã.
 
Khi con người già đi, khả năng giữ thăng bằng thường giảm vì sức mạnh cơ bắp và thị lực bị giảm do tuổi tác, cũng như các nguyên nhân khác. Điều này làm tăng nguy cơ bị té ngã. Trên thực tế, té ngã là nguyên nhân hàng đầu gây thương tích thể chất cho những người từ 65 tuổi trở lên. Người cao niên có thể tập các bài tập giữ thăng bằng, sức mạnh và sự linh hoạt; đây cũng là một cách để đỡ bị té ngã.
 
Chúng ta cũng có thể gặp khó khăn trong việc giữ thăng bằng do các vấn đề về thần kinh, viêm khớp và chấn thương khớp.
 
Học cách cân bằng tốt hơn
 
Tất cả những điều này giải thích tại sao chúng ta cần phải luyện tập nếu muốn cải thiện khả năng giữ thăng bằng của mình. Thí dụ, các vận động viên thể dục liên tục thách thức hệ thống tiền đình và cảm giác cơ thể của họ khi tập đi trên những thanh xà nhỏ xíu. Họ rèn luyện bộ não của mình để phản ứng với những thay đổi rất tinh tế, có nghĩa là họ ngày càng cảnh giác tốt hơn.
 
Đôi khi, một số người bẩm sinh mắc các chứng rối loạn hoặc các vấn đề về phát triển, chẳng hạn như bại não, ảnh hưởng đến hệ thống thị giác, tiền đình hoặc cảm giác cơ thể. Với các trường hợp này, tốt nhất là trẻ nên bắt đầu tập vật lý trị liệu thật sớm, giúp chúng đạt được các mốc phát triển quan trọng – từ việc ngẩng đầu cho đến đứng và tự bước đi.
 
Khi điều trị cho những người có vấn đề về thăng bằng, bác sĩ sẽ bắt đầu từ việc đánh giá xem hệ thống cảm giác thân thể của họ có hoạt động bình thường hay không, rồi hỏi về các vết thương ở cơ hoặc xương. Tùy thuộc vào vấn đề cụ thể, họ có thể thực hiện các bài tập đơn giản như đứng hoặc dậm chân tại chỗ, rồi tiến tới các bài tập khó hơn như đi nhanh hoặc vừa đi vừa nói.
 
Nguồn: “Are people born with good balance? A physical therapist explains the systems that help keep you on your toes” của Gurpreet Singh, được đăng trên trang TheConversation.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hơn một thập niên từ sau cái chết bất ngờ của mẹ, Sehrish Sayani mắc chứng rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD). Suốt những năm đó, những cơn hoảng loạn dữ dội nhất đã giảm dần, nhưng các triệu chứng như nghi ngại thái quá (hypervigilance), trở nên đặc biệt nhạy cảm với một số yếu tố và những giấc ngủ chập chờn đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống của cô.
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.