Hôm nay,  

Phải Chăng Ngày Tàn Của Thuốc Kháng Sinh Đã Báo Hiệu

9/6/201510:33:00(View: 7872)
PHẢI CHĂNG NGÀY TÀN CỦA THUỐC KHÁNG SINH ĐÃ BÁO HIỆU
 
Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Hiện tượng kháng kháng sinh (antibioresistance) xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bị diệt bởi thuốc kháng sinh, mà chúng vẫn tồn tại và sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng (sensible) với một hay nhiều loại thuốc kháng sinh (đa kháng sinh) nào đó.


2 Video : The Animation of Antimicrobial Resistance

https://www.youtube.com/watch?v=AYvX8tnCM9s


          The End of Antibiotics?

https://www.youtube.com/watch?v=M6YqystsKb4


                                                                       ***

Tháng 12/2013 cơ quan FDA Hoa Kỳ có phổ biến thông tư đến kỹ nghệ chăn nuôi vả giới thú y yêu cầu họ xét lại việc sử dụng thuốc thú y trong chăn nuôi ngõ hầu giảm bớt được phần nào hiện tượng kháng kháng sinh ở người.


Cuối tháng 4/2014, Tổ Chức Y Tế Thế giới (LHQ) đã cảnh báo các cảm nhiễm thông thường chữa trị dễ dàng trước đây nhưng nay chúng có thể dẫn đến tử vong nếu chúng ta không khẩn cấp hành động phối hợp để chống lại hiện tượng kháng kháng sinh.(antibioresistance)

LHQ cho biết vi khuẩn kháng thuốc đang lan tràn khấp thế giới vì việc sử dụng không hơp lý các thuốc kháng sinh. Đây không phải là một dự đoán mà là một sự thật tại mỗi vùng của thế giới.

Đó là trường hợp kháng sinh dùng để trị :

-nhiễm trùng huyết (septicémie)

-tiêu chảy

-viêm phổi

-lậu mủ (gonorrhée)

-viêm đường tiết niệu hay đường tiểu (urinary tract infection)- Phụ nữ có óng thoát tiểu (urethra) ngắn hơn nam giới, nên dễ bị nhiễm  vi khuẩn E.coli từ hậu môn vào âm hộ, lên ống thoát tiểu và vào bọng đái (bladder)Từ đây, vi khuẩn có thể xâm nhập vào ống dẫn tiểu (ureter) để nhiễm vào hai quả  thận.
.

Most urinary tract infections start in the lower urinary tract, which is made up of the urethra and bladder. Bacteria from the bowel live on the skin near the anus or in the vagina. These bacteria can spread and enter the urinary tract through the urethra. If they move up the urethra, they may cause a bladder infection (called cystitis). Bacteria that have infected the bladder may travel to the upper urinary tract, the ureters and the kidneys. An infection of the kidneys is called pyelonephritis. An upper urinary tract infection may cause a more severe illness than a lower urinary tract infection.

Women are more likely than men to get UTIs because the urethra is shorter in a woman than in a man. In women, the bacteria can reach the bladder more easily.


Urinary Tract Infections (UTIs)

http://www.acog.org/Patients/FAQs/Urinary-Tract-Infections-UTIs

                                                                     


Không ít thuốc kháng sinh từ trước tới giờ được xem như là những vị thuốc cứu tinh của biết bao bệnh tật, nhưng ngày nay chúng đã tỏ ra là không còn công hiệu trong việc chữa trị gì được nữa!

Kho tàng thuốc kháng sinh càng ngày càng trở nên hạn hẹp và khan hiếm hơn trước rất nhiều!

Vào cuối năm 2009 vừa qua, một vi khuẩn mới có chứa gène NDM-1 đã được thấy xuất hiện tại Ấn Độ.

Người ta gọi đó là siêu khuẩn (superbug).


Sự xuất hiện của siêu khuẩn chứa gène NDM-1


Các nhà khoa học đã phát hiện lần đầu tiên tại New Delhi, Ấn Độ vào tháng 12/2009 loại vi khuẩn đường ruột E.coli có mang gène tạo ra enzyme NDM-1 (là code DNA của New Delhi metallo-beta-lactamase 1).

Đó là siêu khuẩn đa kháng sinh hay superbug vì chúng có khả năng đề kháng với rất nhiều loại thuốc kháng sinh kể luôn với loại kháng sinh có phổ rộng cực mạnh nhóm carbapenems (nhóm nầy dành để sử dụng trong trường hợp các loại kháng sinh thông thường không còn tác dụng được nữa).

Các thuốc sau đây nằm trong nhóm carbapenems: Meropenem, Ertapenem, Doripenem, Panipenem/Betamipron và Razupenem (PZ 601).

Điều nguy hiểm nhất là gène NDM-1 có thể nhảy từ một chủng loại vi khuẩn nầy sang lây nhiễm một chủng loại vi khuẩn khác và do đó tạo cho chúng tính kháng thuốc.

Theo các nhà khoa học Anh Quốc, thì các trường hợp xuất hiện vi khuẩn có mang gène NDM-1 đều có liên hệ đến việc sử dụng bừa bãi các loại kháng sinh hậu giải phẫu thí dụ như giải phẫu thẩm mỹ, ghép bộ phận, cancer, v.v…) tại các bệnh viện Ấn Độ và Pakistan.


Tính đến trung tuần tháng 8/2010 đã có trên 37 ca được phát hiện tại Anh Quốc, Canada có 4 ca,   sau đó là USA, Australia, Hòa Lan, và Pháp… Tất cả đều đến từ các bệnh nhân đã từng được điều trị tại Ấn độ và Pakistan trong thời gian trước đó.

NDM-1 sau đó đã lây sang cho những bệnh nhân khác tại các quốc gia kể trên.

Hai loại vi khuẩn thường thấy có chứa gène NDM-1 nằm trong nhóm vi khuẩn đường ruột thuộc họ Enterobacteriaceae. Đó là vi khuẩn E.coli và một loại vi khuẩn gây viêm phổi có tên là Klebsiella pneumoniae. Hai loại vi khuẩn nầy đều có thể gây viêm nhiễm đường tiết niệu và tạo nên tình trạng nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân.

Hiện nay mối ưu tư chính của các nhà khoa học Âu Mỹ là phải gấp rút cố tìm ra một loại kháng sinh nào khả dĩ có thể thật sự trị được superbug NDM-1 trước khi nó trở thành một hiểm họa chung cho cả nhân loại.

Trong khi chờ đợi, các bác sĩ đã cho áp dụng lối trị liệu bằng cách phối hợp nhiều loại thuốc kháng sinh với nhau, nhưng đôi khi cũng không mấy hiệu quả.

Và chỉ còn việc áp dụng thêm các biện pháp vệ sinh thông thường tại các bệnh viện thí dụ như cách ly bệnh nhân, rửa tay thường xuyên, tẩy trùng, tẩy uế dụng cụ, v.v.

Giới trách nhiệm  về y tế công cộng cảnh báo Siêu khuẩn kháng kháng sinh  sẽ trở thành một mối quan tâm đứng đầu và cấp bách, trên cã cancer.

Mỗi năm có lối 2 triệu người bị nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh và trong số nầy có vào khoảng 23 000 tử vong tại Hoa Kỳ.


Antibiotic resistant "superbugs" have become one of the world's most pressing public health concerns. An estimated two million people become infected with drug-resistant bacteria in the US each year. Of those, at least 23,000 die


Tại sao hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra?  


Có rất nhiều nguyên nhân thí dụ như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách, không tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu, cũng như không chịu uống cho thật hết số thuốc như bác sĩ đã kê ra trong toa.

Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi thú y, canh nông và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong sự hình thành hiện tượng kháng kháng sinh ở người.

Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt khuẩn (nettoyant antibactérien) để chùi rửa quá thường xuyên, không đúng chỉ dẫn cũng có thể giúp sinh sản ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc!

Y, nha, dược, thú y sĩ và bệnh nhân đều có trách nhiệm trong vấn đề kháng kháng sinh nầy!



                                              Cơ chế hình thành vi khuẩn kháng thuốc


Tại sao vi khuẩn kháng được thuốc?   


Hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau đây:

       

1/ Làm thay đổi mục tiêu tác động (site d’action) của thuốc trên vi khuẩn hay là làm thay đổi protéine trên vi khuẩn mà thuốc Pénicilline sẽ bám vào để tác động (Thí dụ: thuốc kháng sinh Pénicilline đối với vi khuẩn Streptococcus pneumoniae).

2/ Vô hiệu hóa thuốc bằng enzyme bêta lactamase (Thí dụ: thuốc Penicilline đối với vi khuẩn Staphylococcus aureus).

3/ Làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được (Thí dụ: thuốc kháng sinh Gentamycine đối với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa).


Một số vi khuẩn kháng thuốc tại Canada


+  Staphylococcus aureus kháng Methicilline;

+  Enterococcus kháng Vancomycine;

+  Klebsiella pneumoniae / bêta lactamase à spectre étendu (BLSE) résistants;

+  Eschericia coli / BLSE résistants;

+  Salmonella;

+  Shigella;

+  Gonocoques kháng Fluoroquinolone;

+  Streptococcus pneumoniae résistant à la Pénicilline (SPRP);

+  Tuberculose résistant à l’Isoniazide et à la Rifambine.

-Health Canada 2014-Antibiotic-resistant illnesses and bacteria

http://healthycanadians.gc.ca/drugs-products-medicaments-produits/antibiotic-resistance-antibiotique/illnesses-maladies-eng.php?_ga=1.233939806.1725849365.1441548226



 

Có sự gia tăng các chủng E.coli kháng thuốc


Vi khuẩn E.coli chiếm 17.3% trường hợp nhiễm trùng cần phải nhập viện, đứng sau bệnh lý nhiễm khuẩn Staphylococcus aures (18.8%)- Có sự gia tăng nhiễm E.coli 0157:H7 Bệnh Hamburger gây tiêu chảy cũng như chũng E.coli gây nhiễm đường tiết niệu.(Urinary tract infection). Nhiễm E coli gây 36.000- 40.000 tử vong/năm.


“Escherichia coli accounts for 17.3% of clinical infections requiring hospitalization and is the second most common source of infection behind Staphylococcus aureus (18.8%). Among outpatient infections, E. coli is the most common organism (38.6%). Currently, we are witnessing the disturbing emergence of new pathogenic E. coli strains, such as diarrheagenic O157:H7, and an increase in urinary tract pathogens. In the U.S., E. coli related urinary tract infections kill ~7200 persons annually, and the annual mortality associated with E. coli bacteremia in the U.S. is around 36,000-40,000 (Russo & Johnson, 2003); globally, ~1 million people die from diarrheagenic E. coli infections, mostly children and immunocompromised individuals. In contrast, most E. coli isolated from the gut exist as commensals and are an essential component of the flora of a healthy human and, indeed, of most animals.”


Sự sang nhượng tính kháng thuốc: hiện tượng đáng ngại (transfert de résistance)


Có bằng chứng cho thấy vi khuẩn mang tính kháng thuốc có thể vượt hàng rào chủng loại (barrière d’espèce) để truyền tính nầy sang cho những vi khuẩn của một chủng loại khác, thí dụ như vi khuẩn gốc ở thú vật truyền tính đề kháng sang cho vi khuẩn gốc ở người chẳng hạn.

Ngoài ra, cũng cần nói thêm là đa số thuốc kháng sinh dùng bên thú y đều có cùng một cơ cấu hóa học như những thuốc đồng loại dùng bên người.

Bởi lý do nầy, cho nên khi một vi khuẩn đề kháng với một loại thuốc bên thú y thì nó cũng có thể đồng thời đề kháng với các loại thuốc cùng nhóm bên người!


Thuốc kháng sinh nhìn từ phía y khoa


Năm 1954, Hoa Kỳ chỉ sản xuất có 2 triệu cân thuốc kháng sinh. Ngày nay, số sản xuất đã tăng vọt lên trên 50 triệu cân trong năm!

Theo The Centers for Disease Control & Prevention (CDC) Hoa Kỳ cho biết, có thể nói là có trên 50% toa kháng sinh do bác sĩ kê ra cho bệnh nhân để chữa trị những bệnh thông thường do virus như ho hen cảm cúm, v.v…đều không cần thiết và không xác đáng!  

Và được biết là thuốc kháng sinh chỉ có công hiệu để trị những bệnh cảm nhiễm do vi khuẩn gây ra mà thôi.

Cơ quan Health Canada cũng đưa ra một nhận định tương tợ như trên.

Ngày nay, một số lớn vi khuẩn không còn cảm ứng với các loại thuốc kháng sinh cũ thường được sử dụng từ trước tới nay nữa.

Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, tác nhân của viêm phổi và viêm màng não đã không còn cảm ứng với Pénicilline và một số thuốc khác!

Vancomycine là kháng sinh đặc trị vi khuẩn Staphylococcus aureus, giờ thì nó không còn hữu hiệu nữa!

Các vi khuẩn như Enterococcus faecalis, Mycobacterium tuberculosis, Pseudomonas aeruginosa đều đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh.

Tử vong của bệnh lao phổi trước đây đã giảm thiểu ở các quốc gia Tây phương, nay có khuynh hướng gia tăng trở lại!

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết các chủng vi khuẩn gây bệnh lậu mủ (gonorrhea) gốc Á Châu và Phi Châu, ngày nay đã thấy xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới.

Tình trạng nhiễm trùng hậu giải phẫu tại các bệnh viện Canada là một vấn đề thật đáng ngại, trong đó nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus là một trong nhiều loại vi khuẩn thường gặp nhất.

Gần đây, Clostridium difficile vi khuẩn gây viêm ruột xảy ra trong các bệnh viện cũng có mòi gia tăng lên nhiều.


Thuốc kháng sinh nhìn từ phía thú y



Thuốc kháng sinh được dùng để phòng và trị bệnh gia súc, nhưng phần lớn trên 90% thuốc được sử dụng như những chất kích thích tăng trưởng (growth promoting) trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Thuốc kháng sinh được trộn vào thức ăn hỗn hợp với những nồng độ thật thấp (sous thérapeutique) để giúp thú mau lớn và tăng trọng nhanh.

Kỹ nghệ nuôi cá salmon vùng ven biển Vancouver, Canada cũng áp dụng phương pháp nầy.

Sự kiện sử dụng quá bừa bãi thuốc kháng sinh từ mấy chục năm nay đã làm phát sinh ra rất nhiều chủng vi khuẩn mang tính kháng thuốc.

Vi khuẩn Salmonella đã đề kháng cùng một lúc với nhiều thuốc như Ampicilline, Chloramphenicol, Streptomycine Tétracycline.

Vào cuối thập niên 1990, tại Anh Quốc, vi khuẩn Salmonella typhimurium DT 104 đã hoành hành dữ dội trong chăn nuôi. Một thời gian sau đó, người ta đã phát hiện những vi khuẩn nầy ở người và điều tai hại nhất là chúng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kể cả với thuốc Trimethoprim sulfaFluoroquinolone

Năm 1985, tại Californie, trên 1000 người đã ngã bệnh vì ăn phải hamburger có nhiễm khuẩn Salmonella newport đề kháng với nhiều loại thuốc.

Ngày nay, các vi khuẩn thông thường của đường ruột như Entérobacter, CampylobacterE.coli 0157:H7 (bệnh Hamburger) cũng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh!



Ăn thịt chứa chất tồn dư kháng sinh có hại không?


Câu hỏi nầy thường được mọi người nêu ra.

Trên lý thuyết, chúng ta nên tránh dùng thịt có chứa chất tồn dư (résidu) kháng sinh. Nhưng thực tế rất khó thực hiện, ngoại trừ trường hợp tự mình nuôi lấy súc vật…để ăn thịt.

Thịt có tồn dư kháng sinh có thể gây hại cho sức khỏe như:

 

-/ Gây dị ứng. Thí dụ Penicilline sẽ chuyển thành acide Pénicilline là một chất dị ứng (allergène), tuy nhiên cũng rất hiếm thấy xảy ra.

-/ Tạo ra những chủng vi khuẩn mang tính kháng kháng sinh sau nầy.


-/ Một vài loại thuốc kháng sinh trong chăn nuôi bị nghi ngờ là có thể gây ung thư (carcinogène). Thuốc kháng sinh Carbadox (Mecadox) thường được sử dụng để trị tiêu chảy ở heo con và cũng đồng thời giúp chúng không bị mất sức giảm cân trong lúc lẻ bầy (lúc đem nuôi riêng trong chuồng heo thịt).

Thuốc cho thấy gây ung thư ở chuột trong phòng thí nghiệm, bởi vậy để ngừa nguy cơ nầy ở người dùng thịt heo, thời gian ngưng thuốc Carbadox trước khi gởi heo đi hạ thịt phải trên 42 ngày để thịt không còn chứa chất tồn dư.

Một số quốc gia như Anh và Úc Châu đã cấm sử dụng.

Health Canada sau đó cũng ra quyết định cấm bán Carbadox.


Phải chăng tất cả vi khuẩn đều có hại?


Thật ra không phải vi khuẩn nào cũng đều có hại cả. Có loại vi khuẩn hiền sống trong ruột và trên da của chúng ta. Chỉ có những loại vi khuẩn xấu mới làm chúng ta bệnh.

Khoa học gọi chúng là những pathogènes.

Khi chúng ta sử dụng các chất diệt khuẩn để chùi rửa, tất cả vi khuẩn tốt lẫn vi khuẩn xấu sống trên da đều bị diệt hết. Nếu chỉ dùng savon thường để rửa thì vi khuẩn tốt không hề hấn gì, nhưng ngược lại vi khuẩn xấu sẽ dễ dàng bị loại đi.

Vậy tốt nhất là nên xài savon loại thường và tránh bớt việc dùng các loại savon diệt khuẩn (savon antibactérien).

Đây cũng là một trong nhiều cách để ngăn chặn phần nào sự xuất hiện của những vi khuẩn kháng thuốc!



Ai ít sử dụng kháng sinh thì khỏi phải lo sợ hiện tượng kháng thuốc?  


Vấn đề ở đây không phải là bệnh nhân kháng thuốc, nhưng chính vi khuẩn mới thật sự là đối tượng kháng thuốc.

Vi khuẩn kháng một loại thuốc nào đó khi chất nầy không đủ sức để diệt được nó nữa. Vi khuẩn mang sẵn tính kháng thuốc có thể nhiễm vào môi sinh, vào nguồn nước cũng như vào bất luận một loại thức ăn thức uống nào đó.

Vấn đề thịt chứa chất tồn dư kháng sinh cũng là nguyên nhân gây ra những chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Luật thú y Canada đã quy định rõ rệt thời gian bắt buộc phải ngưng chữa trị súc vật (période de retrait, withdrawal period) bằng kháng sinh truớc khi gởi đến nhà máy để hạ thịt.

Thời gian này dài hay ngắn tùy theo loại thuốc sử dụng. Test thử nghiệm (Cast test, Stop test, DSSP) sự hiện diện của chất tồn dư kháng sinh trong thịt vẫn thường được thực hiện thường xuyên tại lò sát sinh.


Những người ăn chay, không ăn thịt thì không phải lo ngại đến hiện tượng kháng thuốc?  


Điều nầy sai!

Các loại vi khuẩn gây bệnh có mang sẵn tính kháng thuốc có thể đã hiện diện trong rau cải hoa quả rồi.

Phân súc vật là nguồn lây nhiễm chính!


Nếu nấu thịt cho thật chín có nghĩa là tôi sẽ loại được tất cả vi khuẩn mang tính kháng thuốc?  


Không hoàn toàn đúng như vậy!

Sự nấu chín không đồng nghĩa với sự tiệt trùng (stérilisation). Một số vi khuẩn sống sót vẫn có thể làm hại ta như thường.

Bên cạnh vấn đề vi khuẩn, thịt cũng có thể chứa các chất tồn dư kháng sinh nữa.


Toa ghi rõ uống 4 viên kháng sinh một ngày, nhưng tôi chỉ cần uống 2 viên là đủ rồi?   


Không nên nghĩ như vậy!

Cần phải tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu. Khoảng cách giữa các liều uống có mục đích bảo đảm trong máu lúc nào cũng phải có một nồng độ thuốc cần thiết. Sư kiện không tôn trọng liều lượng sẽ làm trị liệu không kết quả và có thể dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc sau nầy.

Bệnh nhân cần phải uống cho đúng liều, đúng cách và uống liên tục cho đến khi hết thuốc theo  như toa đã được kê ra.

Đây là điều tối quan trọng để bảo vệ sức khỏe không những cho riêng cá nhân mình, mà còn cho  những người trong gia đình và...cho cả súc vật nuôi trong nhà nữa!


Kháng sinh còn dư trong lọ có thể để dành sử dụng lại sau nầy, hoặc để cho người khác?  


Không nên!

Điều quan trọng là phải uống thuốc như toa đã ghi mới có thể hết bệnh được. Uống không hết thuốc, một số vi khuẩn vẫn có thể còn sống sót và trở nên kháng thuốc sau nầy. Bệnh trạng mỗi người mỗi khác. Mỗi loại kháng sinh đều có chỉ định đặc biệt để trị một hay nhiều loại vi khuẩn nào đó. Đem thuốc dư của mình cho người khác là không đúng.

Thuốc dư, thuốc cũ quá thời hạn sử dụng không nên vứt bỏ vào thùng rác, lavabo hay vào toilette vì chúng có thể làm ô nhiễm nguồn nước, và có thể làm xuất hiện tính kháng thuốc ở một số vi khuẩn sống trong môi sinh.

Tại Canada, cách tốt nhất là đem thuốc cũ đến các dược phòng để nhờ họ gởi đi hủy bỏ một cách an toàn.


Chúng ta không nên lo sợ tình trạng kháng kháng sinh vì có rất nhiều loại thuốc trên thị trường?


Điều nầy không hoàn toàn đúng!

Các loại vi khuẩn gây bệnh không những chỉ đề kháng với một thứ kháng sinh, nhưng chúng cũng có thể kháng cùng một lúc với nhiều loại thuốc khác nhau.

Do đó mà số thuốc kháng sinh trong kho tàng trị liệu sẽ trở nên khan hiếm và sẽ đắt tiền hơn.


Kết luận: tôi rất lo

Hiện tượng kháng kháng sinh là một hiểm họa chung của nhân loại. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nầy một cách đơn thuần cục bộ được, mà phải tìm một giải pháp chung cho cả thế giới.

Mọi người đều nhìn nhận là cần nên áp dụng các biện pháp như sự giáo dục dân chúng, ban hành những luật lệ gắt gao để kiểm soát việc sử dụng và sự lưu hành thuốc kháng sinh, canh tân hóa các bệnh viện, mở mang chuồng trại cùng cải tiến kỹ thuật chăn nuôi để giảm thiểu sự sử dụng thuốc kháng sinh trong việc phòng chống bệnh tật.

Nhưng có lẽ tất cả những điều vừa kể trên đều chỉ là…ảo tưởng, nếu không có một quyết tâm chính trị thật sự mạnh mẽ đi kèm!


Tài liệu tham khảo


L'antibiorésistance, une menace qui guette le monde, selon l'OMS-Radio Canada .ca mercredi 30 avril 2014

http://ici.radio-canada.ca/nouvelles/sante/2014/04/30/001-oms-resistance-antibiotiques.shtml


*Agence de la Santé publique du Canada-La résistance aux antimicrobiens-une responsabilité  partagée

http://www.phac-aspc.gc.ca/cphorsphc-respcacsp/2013/resistance-fra.php


  *- George G. Khachatourians, Agricultural Use of Antibiotics and Evolution and  Transfer of Antibiotic Resistant Bacteria. CMAJ Nov. 1998.

http://cecmanitoba.ca/resource/hearings/22/25.pdf


  *- Stuart B.Levy. The Challenge of Antibiotic Resistance.

  http://www.chiro.org/LINKS/FULL/Challenge_of_Antibiotic_Resistance.shtml


 *- Q&A: NDM-1 superbugs. BBC NEWS Health

     http://www.bbc.co.uk/news/health-10930031


* Escherichia coli Antibiotic Resistance Database

http://www.broadinstitute.org/annotation/genome/escherichia_antibiotic_resistance/MultiHome.html


Maryn McKenna-Antibiotics and Antibiotic-Resistant Bacteria in Meat: Not Getting Better 02/9/13

http://www.wired.com/wiredscience/2013/02/narms-adufa-2011/


 * New superbugs emerge from U.K, Asia, Canada...

http://www.cbc.ca/health/story/2010/08/11/uk-lancet-new-superbug.html#socialcomments


 *- Emergence of a new antibiotic resistance mechanism in India, Pakistan and the UK: a molecular  biological and epidemiological study. The Lancet, Vol 10, issue 9, pages 597-602 Sept 2010

http://www.thelancet.com/journals/laninf/article/PIIS1473-3099(10)70143-2/abstract


* Julia Calderone -Superbugs will soon be a bigger problem than cancer

http://www.businessinsider.com/how-common-will-antibiotic-resistant-infections-be-in-the-future-2015-6


*Nguyễn T Chánh – Du Khách Đem Siêu Khuẩn Shigella S. Vào Hoa Kỳ

https://vietbao.com/a235854/du-khach-dem-sieu-khuan-shigella-s-vao-hoa-ky



Montreal




.
.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Một nghiên cứu mới cho thấy thiếu ngủ không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng và hiệu suất làm việc trong ngày, mà còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí JAMA Network Open, so với những người ngủ từ 7 đến 8 tiếng mỗi ngày, những người ngủ ít hơn 6 tiếng/ngày có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 cao hơn khi về già.
Khi nói đến việc giữ cho xương khỏe mạnh, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến vitamin D, chất dinh dưỡng giúp cơ thể hấp thụ lượng canxi cần thiết để giúp cho bộ xương chắc khỏe. Nhưng dù rằng vitamin D đúng là một chất dinh dưỡng thiết yếu, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tầm quan trọng của các loại vitamin khác trong việc chống gãy xương (fractures) và bệnh loãng xương, hay bệnh xương xốp (osteoporosis).
Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, không có mùi và cũng chẳng có vị, những lượng nhỏ chì (lead) hiện diện trong các vật dụng mà chúng ta sử dụng hàng ngày, trong nhà chúng ta ở, và cả trong nước chúng ta uống. Thậm chí, chì còn xuất hiện trong các bình nước tái sử dụng, như việc phát hiện ra chì trong đáy ly Stanley. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều tranh cãi và khơi dậy sự chú ý của người tiêu dùng đối với một vấn đề đã tồn tại từ rất lâu.
Hôm cuối tháng Hai vừa qua, Tòa Tối cao của bang Alabama phán quyết rằng: “Phôi đông lạnh là trẻ em.” Tuyên án này tuy chỉ có uy lực theo Hiến pháp và luật pháp ở Alabama, tuy nhiên, sự bắt đầu này tạo ra tiền lệ cho tất cả những vụ án vế sau của tất cả các bang khác và kề cả hiến pháp Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến thời kỳ cho phép phá thai. Nhiều người và nhiều cơ quan sẽ phải chịu trách nhiệm, sẽ bị trừng phạt nếu làm hỏng phôi thai, như một tội giết trẻ em. Phán quyết của Alabama, được công bố hôm thứ Sáu, bắt nguồn từ hai vụ kiện của ba nhóm cha mẹ đã trải qua thủ tục thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) để sinh con và sau đó chọn đông lạnh số phôi còn lại. Giáo sư Nicole Huberfeld của Trường Luật Đại học Boston cho biết, đó cũng là một quyết định có thể gây ảnh hưởng lan rộng đến việc sử dụng các phương pháp điều trị sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Thử tưởng tượng rằng chỉ cần uống một viên thuốc là quý vị sẽ tràn trề năng lượng, da dẻ mịn màng, và tim mạch khỏe re? Các viễn cảnh hấp dẫn này vẫy gọi mãnh liệt mỗi khi chúng ta dạo quanh qua các quầy hàng bán các loại thực dược phẩm bổ dưỡng trong hiệu thuốc, từ các loại viên uống dầu cá (fish oil), bột collagen (collagen powder), kẹo bổ sung ma-giê và muôn hình vạn trạng các loại vitamin.
Hơn một thập niên từ sau cái chết bất ngờ của mẹ, Sehrish Sayani mắc chứng rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD). Suốt những năm đó, những cơn hoảng loạn dữ dội nhất đã giảm dần, nhưng các triệu chứng như nghi ngại thái quá (hypervigilance), trở nên đặc biệt nhạy cảm với một số yếu tố và những giấc ngủ chập chờn đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống của cô.
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.