Hôm nay,  

Sarkozy Dàn Trận

16/11/200700:00:00(Xem: 9288)

Và có thể làm thay đổi nước Pháp...

Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy là người xông xáo cựa quậy. Và có lẽ bị dư luận ở nhà - và tại Mỹ - coi thường khi tỏ vẻ ngưỡng mộ Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm chính thức vừa qua.

Thật ra, ông là nhân vật cách mạng trong một quốc gia chỉ thích nói về cách mạng.

Cách mạng vì dám nói, và sau đó dám làm những điều đã nói khi tranh cử.

Khi ra tranh cử tổng thống, Nicolas Sarkozzy nói đến nhu cầu cải cách kinh tế và xã hội Pháp, sau khi đắc cử, ông bắt đầu tiến hành việc đó. Tuần này, kế hoạch cải tổ của ông bị các nghiệp đoàn thách đố với hàng loạt những vụ đình công nối tiếp, bắt đầu từ trong ngành giao thông vận tải (xe điện, xe buýt), rồi tiện ích công cộng (điện, ga). Tuần tới sẽ là giáo viên rồi công chức, trong khi hiệp hội sinh viên Unef cũng sẵn sàng nhập cuộc...

Dân Pháp đã quen với những vụ đình công theo mùa như vậy, thường xảy ra sau kỳ nghỉ hè khi chính trường tái nhóm họp và đường phố biến thành chiến trường giữa thành viên nghiệp đoàn, sinh viên, giáo chức,... và nhân viên công lực. Quy luật phổ biến là rốt cuộc chính phủ cũng sẽ nhượng bộ, rút lại những đề nghị cải cách, trong khi nước Pháp lụn bại dần, bị thua sút về cạnh tranh với một tỷ lệ thất nghiệp mấp mé 10%.

Mười hai năm trước, Tổng thống Jacques Chirac cũng tưng bừng khai trương nhiệm kỳ đầu với kế hoạch chấm dứt chế độ ưu đãi công nhân mà nước Pháp thừa hưởng từ sau Thế chiến II. Các nghiệp đoàn lập tức dàn quân ứng chiến và sau mấy tuần hỗn loạn ngoài đường, hàng hoá bị tắc nghẽn, chính phủ của ông đã âm thầm kéo cờ trắng. Tình trạng ấy tái diễn định kỳ và các Thủ tướng Alain Juppé hay Dominique de Villepin đều buông tay lãnh đạn cho thượng cấp.

Nicolas Sarkozy không hèn như Chirac. Ông nhận lãnh trách nhiệm chính trị, đã nói là làm. Ngay từ khi tranh cử, ông đã nói trước là xã hội Pháp phải thay đổi và nếu muốn thay đổi thì dân Pháp hãy bỏ phiếu cho ông. Sau khi thắng cử, ông công khai xúc tiến kế hoạch cải tổ ấy, chứ không lồng việc cải tổ bên dưới những khẩu hiệu mị dân để đạt một vài thành quả biểu kiến. Trong tinh thần ấy, Sarkozy cũng đã khác với Thủ tưởng Lionel Jospin của đảng Xã hội.

Thứ nữa, Sarkozy trực tiếp thi hành việc cải cách chứ không ủy thác cho Chính phủ, hầu nếu có thua thì sẽ cho Thủ tướng Francois Fillon hay các Tổng trưởng liên hệ thủ vai con dê tế thần. Và ông được bầu làm Tổng thống cho một nhiệm kỳ năm năm, mới chỉ khai mạc có năm tháng!

Thật ra, ngay trong từng bước cải cách, Sarkozy vẫn giữ thái độ tương kính và trân trọng với các lãnh tụ nghiệp đoàn. Không coi thường họ, ông sẵn sàng đối thoại, nhưng chẳng nhượng bộ hoặc phục kích họ bằng những đề luật bất ngờ.

Sarkozy đánh bài ngỏ trước sự chứng kiến của công chúng, những người trọng tài chính yếu của trận đấu trí đấu lực này.

Và khác với các vị tiền nhiệm, Nicolas Sarkozy có hy vọng thành công.

Là người thừa kế chủ nghĩa de Gaulle, và lãnh đạo một đảng Gaulliste, Sarkozy đã minh định ngay từ khi tranh cử tinh thần của de Gaulle từ thời thành lập nền Đệ ngũ Cộng hoà là xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa chính quyền và công nhân.

Vào thời đó, tức là từ sau Thế chiến II, Pháp đã quốc hữu hoá nhiều doanh nghiệp và hệ thống chuyên chở công cộng nằm trong chế độ công quản. Việc giải tư hay tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước và quy chế lao động hay quyền lợi nghiệp đoàn thường do nhà nước và các nghiệp đoàn quyết định, với sự nhượng bộ dễ hiểu của chính quyền.

Sarkozy đề nghị cải thiện mối quan hệ đó theo những hoàn cảnh hiện đại, để nước Pháp giành lại ưu thế trên trường quốc tế - một chủ trương khác của de Gaulle. Ông hiện đại hoá quan hệ đó trong kế hoạch cải cách kinh tế và xã hội của mình. Và mặc nhiên phá vỡ ưu thế về quyền lợi mà các nghiệp đoàn - nhất là giao thông vận tải - đã giành được từ sau Thế chiến II.

Một đề mục tiêu biểu là việc đoàn viên nghiệp đoàn được về hưu với trọn vẹn quyền lợi hưu bổng chỉ sau 37 năm rưỡi lao động - trong khi những người khác cũng ở trong khu vực công thì phải chờ 40 năm. Chế độ ưu đãi ấy khiến nhiều công nhân đã có thể về hưu ở tuổi 55, thậm chí 50, và lãnh trọn vẹn quyền lợi hưu bổng của mình.

Sarkozy tấn công thẳng vào cái thế đặc quyền đó và biết rằng khác với trước đây, giờ này ông có hậu thuẫn của công chúng. Các cuộc khảo sát dân ý đều cho thấy tâm lý dân Pháp đã xoay chiều, ngày càng có nhiều người bất bình với ưu thế của loại công nhân quý tộc và với cái lối bắt bí của nghiệp đoàn. Gần 60% dân Pháp ủng hộ quyết định của Sarkozy - khác hẳn tình hình năm 1995.

Vả lại, nếu so sánh với các xứ khác, như Anh, Đức, hay Hoa Kỳ, tỷ lệ gia nhập nghiệp đoàn tại Pháp thuộc loại thấp nhất, nhưng nghiệp đoàn Pháp lại có ảnh hưởng lớn nhất. Dưới sự điều động của đảng Cộng sản (chỉ còn gần 3% lá phiếu dân chúng trong cuộc bầu cử tháng Sáu vừa qua), nghiệp đoàn CGT là một định chế có thể làm rung chuyển nội các và tê liệt nước Pháp.

Vì vậy, trận thử lửa kỳ này báo hiệu hàng loạt thay đổi trên nhiều lãnh vực khác, từ tư pháp qua lao động, thí dụ như các nghiệp đoàn phải bảo đảm một mức dịch vụ tối thiểu nào đó cho hệ thống chuyên chở công cộng chứ không thể bắt bí cả xã hội với các cuộc đình công của mình.

Nhiều người đã so sánh trận thư hùng này với trường hợp của Thủ tướng Margaret Thatcher với công nhân hầm mỏ tại Anh, hay Tổng thống Ronald Reagan với nghiệp đoàn kiểm soát không lưu tại Mỹ. Phương pháp của Sarkozy có thể uyển chuyển hơn, nhưng ý chí hiển nhiên thì không khác.

Một hồ sơ đáng theo dõi, để xem nước Pháp sẽ chiếm lại tư thế cường quốc như thế nào.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.