Hôm nay,  

Vấn Đề Chất Da Cam

10/10/200600:00:00(Xem: 14201)

Giải Pháp Hợp Lý Cho Vấn Đề Chất Da Cam 

Vấn đề kiện tụng giữa Hội Nạn nhân Chất Da Cam Việt Nam và 37 công ty sản xuất hóa chất Hoa kỳ ngày càng phức tạp thêm lên. Tuy đây là một vụ kiện dân sự nhưng phía Việt Nam đã huy động toàn Đảng qua Mặt Trận Tổ Quốc để gây áp lực và vận động quốc tế để yểm trợ vụ kiện ở Brooklyn, nơi sẽ xảy ra phiên xử đầu tiên vào ngày 18/9 tới đây.

Từ điểm nầy, chúng ta không thể nói đây là một vụ kiện thuần túy dân sự mà phải nhìn cao hơn một bậc, là ngoài lý do nhân đạo, kinh tế còn lý do chính trị ảnh hưởng lớn đến kiên hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Mới đây, tin Reuters ngày 2-10-2006 cho biết giới chức Mỹ và VN thông báo sẽ thực hiện kế hoạch dọn sạch sẽ những khu vực bị nhiễm dioxin tại VN, có lượng dioxin cao gấp mấy trăm lần so với mức an toàn ở các nước khác, gồm Đà Nẵng (Quảng Nam), Phù Cát (Bình Định) và Biên Hòa (Đồng Nai).

Từ tầm nhìn trên, chúng tôi nhận thấy cần phải trở lại vấn đề nầy và thử xét lại quan điểm của hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ trước những diễn biến mới của vụ kiện để từ đó truy tìm một giải pháp hợp lý có tính khả thi cao để giải quyết vấn đề.

* Cái nhìn từ phía Việt Nam

Về phía Việt Nam, dù núp dưới nhãn quan dân sự, hay "chính quyền', Việt Nam từ ban đầu đã "khẳng định" là trên 3 triệu trẻ em cùng người lớn bị dị hình, dị dạng, dị thai, dị tật cùng nhiều chứng bịnh ung thư khác nhau… đều là nạn nhân của chất da cam do Hoa Kỳ phun xịt trong chiến dịch Ranch Hand trong thời gian chiến tranh Việt Nam từ năm 1961 đến 1972. Do đó, phía Việt Nam ngày càng cứng rắn hơn trong hiện tại và có thể tiếp tục cứng rắn hơn nữa cho đến ngày xảy ra phiên xử đầu tiên dự định vào ngày 18/9 tới đây.

Có thể nói đây là một cuộc vận động quốc gia, tập trung khả năng tuyên truyền và lãnh đạo của Đảng để cố gắng kêu gọi sự ủng hộ và đồng thuận của "bè bạn khắp năm châu". Chúng tôi xin đan cử ra đây một vài vận động điển hình mà Việt Nam đã thực hiện và còn đang tiếp tục:

- Mặt Trận Tổ Quốc quyết định chọn ngày 10/8 là Ngày Vì Nạn Nhân Chất Da Cam Việt Nam để nói lên ý hướng đấu tranh toàn diện của Việt Nam trong vấn đề nầy.

- GS Len Aldis (Anh), Giám đốc Hội Hữu nghị Anh-Việt thành lập website kêu gọi mọi người trên thế giới ủng hộ nạn nhân da cam ở Việt Nam. Tình đến  ngày 31/7/03, website nầy đã nhận được hơn 25.845 người đã ký qua mạng từ nhiều quốc gia khác nhau trong đó chúng tôi thấy có cả tên của Tổng thống Bush và cựu Tổng thống Clinton của Hoa Ky.

- GS Kenneth (Hoa Kỳ), Giám đốc Chương trình Suny Brockport Việt Nam, thuộc viện đại học Suny Brockport, Nữu Ước, từ năm 1999 đã đến Đà Nẳng liên tục để vận động công cuộc hổ trợ nạn nhân chất da cam. Và từ ngày 19/5 vừa qua theo lời ông nói: 'Ông đã bắt đầu tập hợp các thư tố cáo của nạn nhân chất da cam ở Việt Nam để tố cáo của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ong đã thâu thập hơn 100 lá thư và hình ảnh nạn nhân để tố cáo các tập đoàn sản xuất chất độc da cam/dioxin cũng như ông hứa sẽ mang những là thư trên đến tòa Bạch Ốc và báo chí để gây hậu thuẩn và làm lobby cho vụ kiện 18/9 sắp tới.

- Việt Nam đã tổ chức một hội nghị Quốc tế về Chất Da cam tại Sàigòn vào ngày 25/7 dưới tiêu đề:"Nối vòng tay lớn: Hội nghị ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam". Trong phần phát biểu, BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc bịnh viện Từ Dũ đã "khẳng định" một các rất phi khoa học là: "Không cần xét nghiệm cũng xác định chắc chắn người nầy đều là nạn nhân chất độc da cam". Và con số nạn nhận cũng được Hội nghị nâng lên đến 5 triệu, so với con số 2 triệu mà Việt Nam đã công bố vào tháng 3 năm 2002 tại Hội nghị Quốc tế về Dioxin tại Hà Nội.

Ngoài ra còn có Hội Luật gia Việt Nam lên tiếng ủng hộ vụ kiện, cũng như hàng ngày hầu hết báo chí ở Việt Nam đều có đăng tải thường xuyên những tin tức, hình ảnh, cũng như tuyên bố của những nhân vật có thẩm quyền về các tin tức cập nhật về nạn nhân chất độc da cam ở khắp nơi trong nước.

Từ các thông tin trên, chúng ta thấy rằng Việt Nam đã hạ "quyết tâm" để hy vọng đánh gục Mỹ trong vụ kiện.

* Cái nhìn từ phía Hoa Kỳ 

Về phía Hoa Kỳ, và đối với 37 công ty hoá chất trong đó hai công ty quan trọng nhất là Dow Chemical, và Monsanto chưa cho chúng ta thấy một phản ứng nào trước vụ kiện ngoài hai tập tài liệu nghiên cứu từ năm 1972 nói về ảnh hưởng của chất da cam lên sức khỏe người dân và môi trường bị phun xịt. Đại để, kết luận trong các tập tài liệu trên cũng không khác quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ hiện tại và đa số khoa học gia trên thế giới với nhiều thận trọng trong kết luận về tính chất độc hại của dioxin ngoài vần đề đề nghị cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn nữa.

Còn quan điểm của chính quyền Hoa Kỳ về vấn đề nầy được nêu rõ trên Biên bản Ghi nhớ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau Hội nghị Quốc tế về Dioxin vào tháng 3, 2002 tại Hà Nội, dưới tiêu dề: "Hội nghị Khoa học về Anh hưởng của Chất Da Cam/Dioxin Đối với Sức khỏe và Môi trường ở Việt Nam". Biên bản có thể được tóm tắt như sau:

- Hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam đồng ý thành lập những Uy ban hợp tác nghiên cứu chung, cũng như việc huấn luyện nhân sự, viện trợ dụng cụ phân tích cùng trao đổi thông tin vế các kết quả mà mỗi phía thu thập được;

- Hai bên đồng ý chọn hai điểm nóng là hai nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng Mã Đà và Đà Nẳng để tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng lên con người và môi trường tại hai nơi nầy.

Mặc dù đã ký kết, nhưng có lẽ vì phía Việt Nam không đồng ý với kết quả của Hội nghị trên, cho nên, cho đến hôm nay, mọi nỗ lực hợp tác đề xướng trên đây đã không thể khơi mào được dù là trong giai đoạn tiên khởi.

Dĩ nhiên, câu chuyện Dioxin đã đi vào bế tắc và vụ kiện dù dưới khía cạnh của một vụ dân sự bắt buộc phải xảy ra vào ngày 18/9 tại Brooklyn mà thôi.

* Đề nghị tháo gỡ bế tắc

Áp lực của Việt Nam về vụ kiện ngày càng tăng dần. Phía đại diện cho Việt Nam vừa cử một phái đoàn luật sư do bà Jeane Ellen Mirer gồm 9 người trong đó có luật sự đại diện của Việt Nam trong vụ án là LS Kokkoris đã đến Việt Nam từ ngày 30/6 đến 14/7 vừa qua.

Trên thực tế, sau khi khảo sát kỹ lưỡng hồ sơ vụ kiện, chúng tôi nhận thấy phía Việt Nam không trưng dẫn một bằng chứng khoa học nào cụ thể mà chỉ nêu ra những lập luận dựa theo tin tức và niềm tin (upon information and belief). Cho nên thật khó cho Việt Nam có thể dùng những luận thuyết trên để thuyết phục sự đồng thuận của ông chánh án tòa Brooklyn là ông Weinstein. Thêm nữa, nếu vụ kiện càng kéo dài cả hai phía đều thất lợi vì những chi phí khổng lồ cho luật sư của cả hai bên, mà Việt Nam sẽ khó mà gánh nổi.

Từ những suy nghĩ trên, chúng tôi có những nhận định và đề nghị thiết thực sau đây căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc hai bên cùng có lợi (win-win situation), cũng như đứng trên các điểm tiêu cực từ mọi phía để có một tầm nhìn tích cực ngõ hầu tháo gỡ được bế tắc hiện tại.

Đã từ bao năm nay, quan điểm của chúng tôi qua Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam tại Hoa Kỳ rất rõ ràng là:

- Chúng tôi không loại bỏ ảnh hưởng lên sức khỏe của chất da cam/dioxin lên con người, nhưng chúng tôi luôn luôn cổ súy việc nghiên cứu để truy tìm tận gốc các nguyên nhân gây ra cho hơn 3 triệu nạn nhân trước mắt (do phía Việt Nam công bố);

- Nếu chất da cam là nguyên nhân chính, câu hỏi kế tiếp được đặt ra là làm thế nào chứng minh được nạn nhân là do chất độc da cam trong thời chiến hay chất da cam trong thời bình. Qua kết quả công bố mới nhất của TS Nguyễn Quốc Tuấn về nguy cơ nhiễm độc của tất cả trái cây nhập cảng từ Trung Quốc và một số trái cây nội địa ở Việt Nam qua việc dùng chất Da cam sản xuất từ Trung Quốc như là một tác nhân để bảo quản thực phẩm, thì đâu là sự thật của vấn đề"

- Việc xử dụng ồ ạt thuốc sát trùng, truốc trừ sâu, diệt nấm, diệt cỏ dại để đẩy mạnh nông nghiệp của Việt Nam cần phải được nghiên cứu nghiêm chỉnh, vì đây là những hợp chất hữu cơ chứa chlor, tương tự như Dioxin, do đó cũng có tính độc hại tương đượng với nhau.

Từ các nhận định trên, thay vì tiếp tục vận động thế giới vì một mục tiêu "mơ hồ" trong vụ kiện, và sẽ kéo dài thêm thời gian đau khổ của trên 3 triệu nạn nhân (nếu có thật), chúng tôi đề nghị Việt Nam và Hoa Kỳ cần ngồi lại với nhau để thiết lập kế hoạch hợp tác nghiên cứu chung cũng như tìm biện pháp giúp đỡ nạn nhân ở Việt Nam. Về phía Hoa Kỳ:

- Với tư cách một quốc gia hậu kỹ nghệ với đầy đủ phương tiện kỹ thuật và tài chính và nhất là đứng trên quan điểm nhân đạo, Hoa Kỳ cần trợ giúp Việt Nam để xúc tiến công cuộc nghiên cứu tại Biên Hòa và Đà Nẵng.

- Thiết lập hai phòng thí nghiệm với tiêu chuẩn quốc tế cùng cung cấp những dụng cụ đo đạc tối tân nhất để phân tích Dioxin và những hợp chất tương tự như thuốc sát trùng, trừ sâu rầy khác như DDT, PCBs, Wolfatox, Monitor, Methamidophos, Diazinon, Dichlovos v. v.. là những hoá chất hiện đang được xử dụng rộng rãi ở Việt Nam.

- Huấn luyện chuyên viên phân tích cao cấp có khả năng phân tích, diễn đạt kết quả, nắm vững nguyên tắc an toàn phẩm chất (QA/QC), cũng như khả năng sửa chữa máy móc phân tích (trouble shooting).

Làm được như thế, thì chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta có thể tiến hành một cuộc khảo sát sâu rộng và thu thập hàng ngàn kết quả phân tích từ nhiều nguồn khác nhau như máu, sữa mẹ, đất, nước và ngay cả thực phẩm tại hai nơi kể trên. Từ đó có thể rút ra những kết luận có tính cách xác tín hơn là dựa theo một vài mẫu phân tích ở ngoại quốc.

Còn về phía Việt Nam cần nên đánh tan mặc cảm "chiến thắng" và chủ quan, không ngừng kết án Hoa Kỳ nào là vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, nào là Hoa Kỳ phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý v.v.. Những hành động nầy hoàn toàn không thể nào đưa đến một giải pháp tích cực được. Do đó, Việt Nam cần nên thay đổi não trạng hiện có. Thêm nữa, Việt Nam cũng không thể bỏ qua tính chất "con buôn" của một số luật sư ở Hoa Kỳ luôn luôn tìm cách thúc đẩy việc kiện tụng để giữ thế ngư ông đắc lợi.

Nếu thực hiện được những điều trên, may ra mới có cơ hội thuận lợi để giải quyết trong êm đẹp và ổn thỏa được vấn đề chất da cam ở Việt Nam. Và đồng thời, Việt Nam đã làm được một việc quan trọng là hoàn thành một công cuộc nghiên cứu căn bản về việc nhiễm độc do các hóa chất độc hại ảnh hưởng lên thực phẩm ở Việt Nam. Các kết quả căn bản nầy sẽ giúp Việt Nam giải quyết được phần nào nạn ô nhiễm môi trường hiện đang ở tình trạng bế tắc hiện tại.

Thêm một diễn biến mới nhất của vụ kiện là ngày 14/7 vừa qua, LS Kokkoris đã tuyên bố trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn là "Vụ kiện chất độc da cam có khả năng dàn xếp ngoài tòa (out of court settlement) nếu các đề nghị đưa ra hợp lý và mức đền bù thiệt hại thỏa đáng."

Ngoài ra, vào ngày 6 đến 10-11-2004, Hội nghị Thường niên lần thứ 132 của Hội Y tế Công cộng Hoa Kỳ (American Public Health Association-APHA) sẽ diễn ra tại Washington, trong đó chủ đề về chất Da cam, Dioxins sẽ được đề cập trong ngày 8/11. Các diễn giả có liên hệ đến vụ kiện được liệt kê sau đây: LS Costantine Kokkoris, đại diện của Hội Nạn nhân Da cam Việt Nam, Steve Brock, đại diện công ty Dow Chemical Company, và BS Schecter, một chứng nhân của Hội Da cam trong vụ kiện. Dĩ nhiên là đại diện cho nguyên đơn là LS Kokkoris sẽ nói lên quan điểm của Hội và vị đại diện cho Dow sẽ lên trình bày những phản bác cùng nghi vấn về ảnh hưởng lên sức khỏe con người của chất da cam. Trong kỳ hội nghị sắp tới đây, đặc biệt là quan điểm của BS Schecter đã có phần thay đổi. Thay vì cứng rắn kết án chính phủ Hoa kỳ trong chiến dịch Ranch Hand gây ra trên 3 triệu nạn nhận Việt Nam, trong đề tài thuyết trình sắp tới ông sẽ nêu ra vấn đề người Việt Nam có thể bị tiếp nhiễm chất da cam trong qua khứ do chiến tranh gây ra hoặc trong hiện tại do phát triển ồ ạt ở Việt Nam.

Tin tức cập nhật mới nhất phía tòa án Brooklyn về các diễn biến của vụ kiện ddược ghi nhận như sau:

1- Ngày 10/9, các Bị đơn, nghĩa là các công ty hóa chất sẽ nộp "motion" lên tòa để xin "hủy án"  vì không có bằng chứng khoa học từ phía Nguyên đơn.

2- Phía Nguyên đơn sẽ có 30 ngày, nghĩa là ngày cuối cùng sẽ là 11/10 để nộp các phản bác cũng như những chứng minh khoa học nếu có lên tòa án.

3- Và sau cùng phía Bị đơn có hai tuần lễ để trả lời các phản biện của Nguyên đơn.

4- Tòa án, cho đến nay vẫn chưa định ngày cho phiên xử đầu tiên. Do đó ngày xử dự định vào ngày 18/9 đương nhiên kễ như được dời lại.

Những chỉ đấu trên đây có thể là bước đầu của một cuộc dàn xếp nội bộ đang xảy ra giữa Hoa Kỳ và Việt Nam để có thể đi đến kết thúc vụ kiện mà cả hai phía đều không mong có kẻ thắng người thua.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.