Hôm nay,  

Á Châu 2007

27/12/200600:00:00(Xem: 11039)

Á Châu 2007

... Cởi mở về kinh tế có dẫn tới cởi mở về chính trị hay không...

Chúng ta đang ở vào những ngày cuối năm, và chờ đợi nhiều hy vọng tốt đẹp cho năm 2007. Đối với các nền kinh tế Á châu, viễn ảnh kinh tế trong năm 2007 sẽ ra sao" Diễn đàn Kinh tế sẽ làm một bản tổng kết cho câu hỏi này trong phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Năm 2007 sẽ mở ra nội trong vài ngày tới, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về triển vọng hay rủi ro kinh tế trong năm tới cho các nền kinh tế Á châu. Câu đầu tiên của chúng tôi là tình hình chung sẽ ra sao, có khả quan hay không"

- Nhìn chung thì tình hình tăng trưởng kinh tế vẫn sẽ khả quan, nhưng không được như năm nay và câu hỏi đang ám ảnh mọi người trên các thị trường Châu Á là liệu Á Châu đã đứng vững chưa hay vẫn tùy thuộc vào một đầu máy tăng trưởng là kinh tế Hoa Kỳ. Câu hỏi ấy sở dĩ được đặt ra vì, dù chỉ đóng góp chừng 22 đến 25% vào tổng sản lượng kinh tế của thế giới, kinh tế Mỹ vẫn góp phần tới 60% vào tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu vì sức tiêu thụ rất cao của mình mà qua năm tới đây, kinh tế Mỹ sẽ bước vào một chu kỳ suy trầm nhẹ, ít ra trong sáu tháng đầu năm và gặp trường hợp ấy nạn suy trầm tại Mỹ sẽ chi phối sự thịnh vượng của Châu Á như thế nào"

Hỏi: Thưa ông, nói như vậy nghĩa là nếu tìm hiểu về viễn ảnh 2007 của Á châu, người ta vẫn cần nhìn về kinh tế Hoa Kỳ phải không"

- Thưa đúng như vậy và đây là một nghịch lý mà chúng ta cần quan tâm khi phân tách tình hình kinh tế thế giới. Các quốc gia đều có thói quen nghi kỵ hay đả kích chính sách ngoại giao của Mỹ nhưng thực ra vẫn cần tới niềm tin tưởng và sự lạc quan của giới tiêu thụ Mỹ và chính tâm lý ấy cũng giải thích vì sao nhiều nước chống Mỹ ở bề ngoài mà vẫn thấy cần Mỹ nên càng chống!

Hỏi: Ông vừa nói là người ta chưa rõ rằng Châu Á đã đứng vững hay chưa, và có bị lệ thuộc quá nhiều vào kinh tế Hoa Kỳ không. Như vậy, Á Châu cũng có một hy vọng xin tạm gọi là độc lập hay được tách rời khỏi những chu kỳ thăng trầm của thị trường Hoa Kỳ"

- Và đấy sẽ là câu hỏi lớn của năm 2007 này. Nói cho cụ thể thì mức độ ràng buộc của kinh tế Á Châu - đây là ta nói về Á Châu ngoài Nhật Bản - vào kinh tế Mỹ có thể đo lường ở ba yếu tố. Thứ nhất là sản lượng Á Châu cao hay thấp so với sản lượng Hoa Kỳ, thì trong năm năm qua, tỷ trọng của sức sản xuất Á Châu so sánh với Hoa Kỳ có gia tăng đáng kể, từ một phần ba nay đã lên tới khoảng 45%. Yếu tố thứ hai là tỷ trọng của xuất khẩu Á Châu qua Mỹ nhiều hay ít, thì trong mươi năm qua, phần xuất khẩu của Á Châu vào thị trường Mỹ có giảm, từ hơn 22% nay chỉ còn khoảng 17-18% và vì vậy bị hay được hiệu ứng của Mỹ ít hơn. Yếu tố thứ ba, hơi chuyên môn hơn một chút, là mức lãi suất bình quân của Á châu so với lãi suất tại Mỹ ra sao. Hiện nay, lãi suất ngắn hạn tại Mỹ đã tăng 17 lần mỗi lần 25 điểm kể từ tháng Sáu năm 2004, trong khi ấy, lãi suất bình quân tại Á châu vẫn còn thấp hơn nhiều. Căn cứ trên quan hệ thực tế ấy, nhiều người cho rằng Á Châu nay đã có thể đứng một mình và không bị ảnh hưởng nhiều của các chu kỳ thăng giáng tại Mỹ. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng ảnh hưởng đó vẫn có và đấy là một rủi ro.

Hỏi: Ông giải thích thế nào về nhận định có vẻ bi quan ấy"

- Thưa là vì Á Châu, ngoại trừ trường hợp Ấn Độ, vẫn chưa có khả năng tôi xin tạm gọi là “kích cầu nội địa”, tức là gia tăng sức tiêu thụ của thị trường nội địa và ngạch số đầu tư nhiều hay ít vẫn cứ được quyết định căn cứ trên triển vọng xuất khẩu của các nước và trên chu kỳ tăng trưởng của thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể thấy điều ấy khá rõ ngay tại Việt Nam. Ngày hôm nay, ở tại Việt Nam, mọi người đều lạc quan với việc gia nhập WTO và tính toán làm ăn gì, kể cả xây cất hoặc đầu tư vào bất động sản, cũng căn cứ vào triển vọng mua bán hay giao dịch với Hoa Kỳ. Trung Quốc cũng thế và họ vừa lên tiếng than phiền là khoảng cách giàu nghèo ngày càng đào sâu chính là vì thành phần gọi là giàu có thịnh vượng nhất, ở các tỉnh duyên hải, đã làm giàu nhờ giao dịch buôn bán với thị trường bên ngoài, chủ yếu là thị trường Mỹ.

Hỏi: Trong giả thuyết gọi là bi quan là kinh tế Mỹ sẽ gặp chu kỳ suy trầm nhẹ và Á Châu sẽ bị vạ lây thì những gì có thể xảy ra"

- Nói chung thì tốc độ tăng trưởng có thể giảm chứ không bằng được kết quả năm nay. Thứ hai, ví thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các nước phải cố gắng cạnh tranh để bán hàng cho nhiều nên mâu thuẫn về ngoại thương sẽ gia tăng. Tại Hoa Kỳ, xu hướng bảo hộ mậu dịch đã thắng thế sau cuộc bầu cử vừa qua, sẽ càng trở thành gay gắt hơn với các nước xuất khẩu tại Đông Á. Cũng vì vậy mà vòng đàm phán Doha ta đã đề cập nhiều lần trên diễn đàn này sẽ khó được khai thông. Và đặc biệt là quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ càng căng thẳng, nhất là trong năm tới khi đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có Đại hội, năm năm một lần. Dù sao, Trung Quốc vẫn còn một hy vọng khác là việc xây cất hạ tầng để chuẩn bị cho Thế vận hội Bắc Kinh 2008 nên sẽ bị ảnh hưởng ít hơn từ chu kỳ suy trầm tại Mỹ.

Hỏi: Trước khi chúng ta đề cập đến trường hợp Việt Nam, xin ông trình bày chung về khung cảnh của các nước Đông Nam Á, tức là Á Châu ngoài Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ và không kể các nước Đông Bắc Á như Đài Loan, Nam Hàn.

- Sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998, các nước Á Châu và đặc biệt là Đông Nam Á đều thấy mối nguy khi giàng sự thịnh suy kinh tế vào thị trường bên ngoài nhưng chỉ có hai quốc gia là Thái Lan và Malaysia là có nỗ lực tôi gọi là kích cầu nội địa. Nhưng nỗ lực ấy đã bị suy giảm tại Thái vì bất ổn chính trị trong năm qua, và cũng không đủ mạnh tại Malaysia. Vì vậy, qua năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Nam Á có thể sẽ sút giảm so với năm nay, thay vì gần 6% thì chỉ còn hơn 5%. Ngoại lệ trong khu vực chính là Việt Nam.

Hỏi: Chúng ta đi vào đề mục cuối cùng là tình hình Việt Nam đó, vì sao ông lại có vẻ lạc quan với viễn ảnh 2007 của Việt Nam"

- Vì một lý do dễ hiểu là sự lạc quan phổ biến của thị trường với việc Việt Nam sẽ gia nhập WTO vào năm tới và lại vừa có quy chế mậu dịch bình thường và vĩnh viễn với Hoa Kỳ nên sẽ tiếp nhận khá nhiều đầu tư và sẽ xây cất rất mạnh. Vì vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế cho toàn năm có thể vẫn còn khả quan, chừng 7,5 đến 7,6%. Qua đến giữa năm 2007 trở đi thì mới gặp hiệu ứng bất lợi và hiệu ứng đó sẽ thành trầm trọng hơn trong năm 2008 khi thị trường thấy ra mặt trái của cơ chế chưa kịp cải cách theo những quy định của WTO. Cũng vì vậy mà tôi cho rằng giới lãnh đạo kinh tế và doanh gia cần nhìn xa hơn sự lạc quan nhất thời của viễn ảnh 2007.

Hỏi: Nhân dịp tổng kết vào cuối năm về mối quan hệ kinh tế giữa Á Châu và Hoa Kỳ, xin hỏi ông thêm một chi tiết khá đặc biệt nhưng ít được đề cập là vai trò kinh tế của người Việt ở tại Mỹ đối với thị trường Việt Nam. Đây là một vấn đề chúng tôi biết là rất nhạy cảm nhưng thật ra rất được người Việt quan tâm.

- Tôi biết rằng đây là một vấn đề nhạy cảm nên sẽ cố trình bày trên khía cạnh chuyên môn kinh tế trước khi nói đến những kết luận khác.

Hơn 25 năm trước, khi Đặng Tiểu Bình chuyển hướng và mở cửa kinh tế, động lực đầu tiên giúp cho kinh tế xứ này ra khỏi thời kỳ khủng hoảng u ám của cách mạng vô sản kiểu Mao chính là cộng đồng người Hoa tại hải ngoại, ta gọi là Hoa Kiều, chủ yếu qua ngả Hong Kong. Sau đấy mới tới các nhà đầu tư của các nước tư bản Tây phương. Việt Nam không được như vậy vì lầm lẫn tai hại về chính sách của lãnh đạo thời ấy và vì cộng đồng người Việt tại hải ngoại thành hình từ một thảm kịch quá lớn mà lãnh đạo tại Hà Nội không bao giờ công khai xin lỗi. Họ cứ nói vuốt theo kiểu chung chung như khúc ruột xa ngoài ngàn dậm.

Hỏi: Kết quả là đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sau thời đổi mới vẫn chưa có sự tham gia của cộng đồng người Việt ở hải ngoại"

- Thưa đúng vậy và đây là yếu kém đáng kể của Việt Nam nếu so với trường hợp Trung Quốc. Phải mất một thời gian khá lâu, cả chục năm, người ta mới từ bỏ được thói quen tôi xin gọi là “đánh quả” và “móc túi vặt” đối với đầu tư của người Việt ở nước ngoài. Tình hình ngày nay đang đổi khác và sẽ còn khác trong thời gian tới và người ta có thể chứng kiến điều ấy ngay tại California là nơi tập trung một cộng đồng người Việt rất đông đảo và thành công về kinh doanh. Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng có thể gọi là hai bình thông nhau về kinh tế.

Hỏi: Ông nói đến hiện tượng “bình thông nhau” là như thế nào"

- Đó là mối giao dịch kinh tế giữa người Việt ở trong và ngoài nước. Trước tiên là hai bình thông đáy nhờ nguồn tiếp tế của người Việt hải ngoại cho thân nhân ở nhà. Kế tiếp là nhiều người đã dọ dẫm trở về đầu tư sau đấy thất vọng vì cơ hội thì ít mà tham nhũng và cướp giựt thì nhiều. Sau đó, kể từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Thương mại Song phương cách đây năm năm thì quy củ về đầu tư, chủ yếu do sức ép của doanh giới Mỹ, mới có cải thiện và nhờ đấy giới đầu tư người Mỹ gốc Việt Nam mới tìm về đông hơn, dù vẫn gặp rủi ro cao hơn người Mỹ không phải là gốc Việt Nam. Đây là sự khác biệt đáng xấu hổ cho người Việt Nam nếu ta so với trường hợp của Trung Quốc. Nói ra thì kỳ, họ có tinh thần dân tộc cao hơn chúng ta!

Hỏi: Và ngày nay, với triển vọng WTO đang rộng mở thì hiện tượng ông gọi là bình thông nhau đang gia tăng"

- Thưa rằng ta gặp một hiện tượng phức tạp hơn thế, vì hai bình thông nhau ở nhiều cửa, nhiều cấp. Ngày càng có nhiều người Việt tại Mỹ trở về đầu tư và làm ăn trước tiên là với thân nhân và gia đình vì sự tin tưởng, và ngày càng có nhiều thành phần khá giả hơn đầu tư vào những cơ sở quy mô hơn. Vì chế độ chưa hoàn toàn bình thường hoá quan hệ với người dân nên giới đầu tư ấy ít muốn công khai hoá việc làm ăn của họ. Ngược lại, một số thành phần khá giả, về tiền bạc và thế lực, cũng bắt đầu chuyển tiền ra ngoài. Ban đầu chỉ là cho con em đi học và mua nhà mua cửa, sau đó thì đầu tư vào các cơ sở kinh doanh. Hai bình thông nhau vì vậy ở nhiều cửa và ở hai chiều. Dân hải ngoại đem tiền về nhà đầu tư và mở ra cơ hội xuất khẩu cho người ở trong nước, đồng thời một số người có chức có quyền hay có tiền thì đầu tư ngược ra ngoài.

Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, là một câu nhạy cảm. Cởi mở về kinh tế có dẫn tới cởi mở về chính trị hay không" Chúng tôi sở dĩ nêu câu hỏi này vì nhiều người cho rằng nhờ việc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO mà tình hình chính trị tại Việt Nam có thể sẽ thay đổi trong năm 2007 này.

- Tôi không tin như vậy. Tôi không tin là cải cách kinh tế sẽ cải thiện mức sống nhờ đó người dân sẽ có những ưu tiên cao hơn trong sự đòi hỏi. Lý do là mọi việc giải phóng sẽ giải phóng trước tiên những phản ứng tiêu cực, thí dụ như mánh mung và tham nhũng, và điều ấy càng làm ung thối hệ thống chính trị ở trên. Vì vậy, tôi cho rằng dù tình hình Việt Nam có cải thiện về kinh tế, việc người Việt ở trong và ngoài nước đòi hỏi tự do và dân chủ nhiều hơn thì vẫn là điều cần thiết và phải nói là có ích cho những người muốn kinh doanh hầu cải thiện cuộc sống của ngườ dân trong nước. Nếu cứ nhìn hai vế chính trị và kinh tế như đối lập thì người ta quên mất cái thế đòn bẩy tương tác giữa việc cải thiện chính trị và luật lệ cho thông thoáng với việc đẩu tư cho an toàn. Tôi nghĩ rằng năm 2007 sẽ chứng kiến sự chuyển động ấy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.