Hôm nay,  

Thước Đo

16/11/201900:00:00(Xem: 7153)

Căn nhà tịch mịch vô cùng, tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên tường nghe như tiếng nhắc nhở vô hình vọng laị. Cô Hoa thắp nén nhang trên bàn thờ  gia tiên xong lui laị tràng kỷ, giọng nhỏ nhẹ đượm buồn:

 - Uống hoài vậy sao con?

 Đạt lặng lẽ không trả lời, ngồi yên đối diện bên tràng kỷ, mắt nhìn xa xăm dịu vợi, nét mặt không vui cũng chẳng buồn… Dường như lạc vào một thế giới nào đó xa rời với hiện taị. Đạt uống như hũ hèm, tửu lưọng không thằng bạn nào sánh nổi, càng uống càng lặng lẽ và tỉnh hơn, uống bao nhiêu đi nữa gương mặt cũng chỉ ửng hồng , đôi mắt vốn long lanh laị sáng thêm ra, trong khi những người bạn: Tùng, Hải, Thái… thì lờ đờ buồn ngủ, đứa thì mặt đỏ gay như gà cồ đá. Đạt uống từ những năm cuối cấp, tuy nhiên lúc ấy chỉ uống chơi chơi thôi, từ khi Hạnh Đoan lấy chồng thì Đạt thành con sâu rượu. Đạt yêu Hạnh Đoan bằng cả tâm hồn. Hạnh Đoan cũng yêu Đạt lắm, nhưng sự đời nhiều nỗi cay nghiệt. Ba Hạnh Đoan muốn gả con gái cho người mà ông ta chọn, tất nhiên người ấy giàu và có địa vị trong xã hội.

 - Con phải lấy thằng Khanh, không có yêu đương gì cả! con phải bỏ thằng Đạt, thằng đó con sĩ quan ngụy, nghèo mạt rệp, lấy nó về thì cạp đất mà ăn à?

 Hạnh Đoan khóc lóc van xin, thậm chí toan tự tử ấy thế mà không thể lay chuyển được ông Khải, người cha sắt đá đã từng hai mươi năm cầm súng, ôm bom, cài lựa đạn…Cuối cùng Hạnh Đoan phải gạt nước mắt mà lấy người mình không hề thương yêu.

 Đạt hiểu hoàn cảnh của Hạnh Đoan, thông cảm cho Hạnh Đoan. Đạt thố lộ với bạn bè:” Ở vào hoàn cảnh ấy thì ai cũng phải vậy thôi!”

 Ba Đạt là chuẩn tướng của chế độ Sài Gòn. Ông đi cải tạo và chết trong tù, ngày ông đi người ta bảo chỉ hai tuần là về, thế nhưng sau hai tháng không thấy, rồi hai năm cũng bặt tăm và cuối cùng thành án mười năm, chưa đủ mười năm thì người ta bảo mẹ Đạt lên trại nhận xác chồng. Mẹ Đạt, một mình nuôi sáu đứa con nheo nhóc, cuộc sống túng thiếu thậm chí có lúc đói. Ngôi nhà mà cả gia đình đang ở vốn là dinh ông phủ Viễn, nội của Đạt. Ngày trước nó uy nghi, to đẹp lắm nhưng từ sau khi ba Đạt đi tù thì nó tàn tạ theo thời gian, tường vôi bong tróc, cữa sổ rụng rời, đồ đạc bán dần để sống qua ngày… giờ trống huơ trống hoác, duy có bộ trường kỷ là còn giữ được mà thôi. Đạt thi đậu đaị học cùng nhóm bạn, những người kia lên sài Gòn học. Riêng Đạt không được đi học, chính quyền địa phương không cắt hộ khẩu, không cho đi học. Từ đó Đạt càng chán đời, tiếp đến Hạnh Đoan lấy chồng thì Đạt suy sụp hoàn toàn, chìm sâu vào men rượu. Bạn bè cũng dần lảng tránh:

 - Người gì cứ say xỉn suốt ngày, người mà không có chí tiến thủ thì làm sao phát triển?

 Chỉ riêng có Tâm là thân thiết với Đạt. Tâm là thằng không biết uống mà laị chơi thân với một thằng hũ chìm, kể cũng mắc cười thật! Có lần Đạt nhè nhè hơi men hỏi:

 - Ai cũng né tớ, cậu không ngại sao mà laị chơi với tớ?

Tâm bảo:

 - Nếu ngại thì tớ đâu có chơi với cậu!

 Đạt quờ quạng ôm lấy Tâm khóc:

 - Tớ thương và nhớ Hạnh đoan, đời này coi như bỏ, không biết kiếp sau có còn gặp laị?

 - Cậu không cần phải tự làm khổ mình như thế, hãy tỉnh laị và sống như mọi người. Cậu là con trai trưởng, dưới cậu còn năm đứa em. Cậu không thể vì một đứa con gái mà bỏ mặc mẹ và em mình như thế!  Tâm hơi sẵng gịong

 - Tớ biết- Đạt thầm thì

 - Cậu biết mà không chịu thay đổi thì biết cũng như không! Tâm cả quyết

 Đạt không nói gì, Tâm biết chắc không thể noí gì hay làm gì được hơn nữa, lòng thấy thương bạn pha lẫn chút tức giận:” Người gì mà say xỉn suốt, sống không tương lai, không mục đích.” Dù có giận bạn nhưng Tâm vẫn không bỏ bạn mình.

 Hạnh Đoan lấy chồng rồi theo chồng lên Sài Gòn nhưng tâm hồn của Hạnh Đoan chỉ có Đạt thôi. Hạnh Đoan nhẫn nhục sống, an phận với vai trò làm vợ của mình, cuộc sống vật chất phủ phê. Chồng Hạnh Đoan là giám đốc một doanh nghiệp lớn. Anh ta  cũng tử tế với Hạnh Đoan nhưng không hề biết nỗi đau khổ của vợ mình và có lẽ cũng không quan tâm đến tâm sự của Hạnh Đoan, đôi khi vậy mà laị hoá hay. Những lần Hạnh Đoan từ Sài Gòn về thì hai đứa laị gặp nhau. Đạt thì như con hổ đói. Hạnh Đoan như chim sổ lồng. Cuộc tình nồng rực lửa trong một thời gian ngắn mà họ có được. Dân quanh bờ hồ của thị xã ai ai cũng biết cả. Ông Khải, ba Hạnh Đoan cũng loáng thoáng biết nhưng giả tảng làm lơ. Cô Hoa, mẹ Đạt vốn buồn laị càng buồn hơn:

 - Con phải tính chứ sống vậy sao được con?

 Cô Hoa rất hiền và thương con hết mực, nay đã có tuổi nhưng nét đẹp sang trọng, quý phái vẫn còn phảng phất. Cô Hoa về làm dâu ông nhà ông phủ Viễn, làm vợ ông chuẩn tướng nào phải là hạng thường.  Chồng chết trong tù, địa phương kỳ thị, o ép gia đình sĩ quan ngụy đủ điều, cuộc sống tưởng chừng như chạm đáy đời. Sau này những sĩ quan và người cộng tác với chế độ Sài Gòn phần lớn đều được xuất cảnh diện H.O hoặc ODP cả. Có người đi vài năm trở về xênh xang lắm, quần áo se sua, ăn nhậu tưng bừng và nổ banh nhà lồng luôn. Ba Đạt ở tù mười năm, dư tiêu chuẩn để đi nhưng không hiểu sao mẹ Đạt không làm giấy để đi. Nhiều lúc Tâm muốn hỏi nhưng ngaị chạm nỗi đau của cô nên thôí.

 Tâm vốn người miệt ngoài, xa lơ xa lắc ấy vậy mà laị mang đậm tính cách của người miền sông nước này. Gia đình Tâm vào đây sinh sống và ở gần nhà của Đạt, từ đó hai đứa mới đi học chung và thành bạn tới bây giờ. Năm rồi Tâm theo ba về ngoài quê lo chuyện đất đai và mồ mả tổ tiên trong ba tháng. Mới có một tháng mà Tâm nhớ Đạt nên viết thư:

 “Đạt thân mến!

  Tớ về quê mới có một tháng mà nhớ cậu quá. Tớ với cậu là bạn thân, có thể noí là thân nhất so với mấy người bạn kia. Tớ nhiều lần khuyên cậu bỏ rượu, tớ laỉ nhải hoài có làm cậu bực mình không? Tớ với cậu đều là những kẻ hậu đậu, lận đận trong đời. Cả hai không có khả năng cạnh tranh và cũng chẳng cạnh tranh nổi trong cuộc đời này! Trong tình yêu cũng như tình bạn, người ta thường lấy những giá trị: tiếng tăm, tiền bạc, gia thế, quan hệ làm ăn… làm thước đo mà hành xử. Tớ với cậu có lẽ là những kẻ thuộc loaị thiểu số coi khinh cái loại thước đo này, cũng vì thế mà chúng ta thành những kẻ lạ, những kẻ khác đời và lạc loài trong đời. Dù thế naò đi nữa tớ cũng không hối hận về những gì mình đã quyết định. Tớ nghĩ, cậu nên quên Hạnh Đoan đi, dù gì cô ấy cũng đã có chồng. Đừng gặp cô ấy nữa, nếu lỡ chồng cô ta biết thì có phải thêm khổ đau cho cô ta không? Cậu không thể sống mãi trong cái quá khứ với những kỷ niệm ấy nữa. Cuộc sống muôn màu, thời gian thay đổi mỗi phút giây, hãy sống với hiện taị, hãy sống có trách nhiệm với mẹ và đàn em của mình!

 Tớ có vài lời thật lòng, mong bạn đừng giận!

 Tâm

 Bạn của cậu”

Không biết Đạt tâm sự hay đưa thư này cho hạnh Đoan mà cô ấy nhắn tin cho Tâm: “ Cảm ơn anh Tâm, anh là người bạn thân nhất của anh Đạt và cũng là của em vậy! Mong anh gần gũi và nhắc nhở anh Đạt. Anh ấy uống hoài thì ruột gan nào chịu nổi. Hai đứa em bạc phước, không lấy được nhau nhưng lòng vẫn hướng về nhau. Em không biết dùng từ ngữ nào nữa ngoài hai chữ khổ đau! một lần nữa em cảm ơn anh đã quan tâm đến anh Đạt và em.”

 Rồi nhơn duyên đến, Tâm theo gia đình xuất cảnh, tiệc chia tay ai cũng vui vẻ nâng ly chúc mừng, ai cũng bảo sớm hoà nhập và thành công ở đất mới. Đạt lặng lẽ khkông noí gì, chỉ tì tì uống. Bạn bè không ai để ý và cũng không biết gì nhưng Tâm biết và đọc được tâm trạng của Đạt. Cậu ấy mất người yêu, giờ người bạn thân, chỗ tâm sự cũng sắp ra đi, thử hỏi ai không buồn? ngày ra sân bay không thấy Đạt tiễn đưa. Tâm thoáng buồn nhưng hiểu được tâm sự của Đạt. Cậu ấy sợ bịn rịn cầm lòng không đặng nên tránh mặt!

 Thời gian đầu cũng có thơ từ qua laị nhưng cuộc sống quá bận rộn nên thưa thớt dần, bẵng đi một thời gian thì mất liên lạc luôn. Chỉ một thoáng thôi mà đã mười lăm năm trôi qua, mười lăm năm như cơn say, như giấc ngủ chập chờn mộng mị.

 Thế rồi thời đaị hôm nay tân tiến quá, mạng NET nối mọi người trên thế gian laị với nhau. Một lần lên mạng, tình cờ gặp laị Hạnh Đoan. Tâm mừng rỡ biết bao, Hạnh Đoan cũng thế, hai người tâm sự suốt mất giờ liền. Hạnh Đoan cho hay:

 - Đạt chết rồi, anh ấy bị ung thư gan. Hai năm trước anh ấy kêu đau bụng, cô Hoa và mấy em chở vào nhà thương, sau khi xét nghiệm bác sĩ bảo: gan anh ấy tiêu tùng hết rồi!

 Tâm nghe lòng mình đau nhói, không ngờ mười lăm năm vô tình mà giờ thành vĩnh viễn. Tâm tự trách mình sao quá vô tình, bất chợt hai giọt nước mắt tự động rơi. Thế là Đạt đã ra đi mãi mãi! Tâm thẫn thờ, quên mình đang noí chuyện với Hạnh Đoan. Đến khi Hạnh Đoan hỏi:”Anh còn trên mạng không? Tâm mới giật mình và trở laị chuyện trò với Hạnh Đoan.

 - Anh Đạt tỉnh táo đến giây phút cuối cùng, lúc sắp chết còn nhắc tên anh.

 Tâm thấy lòng mình đau quá và hối hận vì bao năm tháng ấy đã lơ là với bạn. Tâm cũng có chút an ủi vì người bạn thân lúc sắp chết còn nhớ đến mình! Hạnh Đoan laị tiếp: “ Sau hai năm, kể từ ngày Đạt chết. Cô Hoa dường như lặng lẽ suốt ngày và hay ngồi ở trường kỷ, chỗ mà khi mỗi lần uống về Đạt vẫn ngồi.” cô Hoa có lần hỏi thăm anh:

 - Không biết thằng Tâm giờ lưu lạc chốn nào?

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, 7/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hãy làm công việc của một hiệp sĩ, hãy cùng nhau chận đứng cái ác và không cho phép kẻ ác tiếp tục đem cái hoang dã của những toà án ngoài cánh đồng vào dinh thự. Hiệp sĩ trong phiên toà này cho dù chưa thay đổi được kết quả của vụ án, nhưng đó là Tiếng Lòng của nông dân thôn hoành, là Thực Trạng của xã hội, và chính là Số Mệnh của mỗi chúng ta.
Chúng ta đang sống trong thời đại của những cửa sổ. Có rất nhiều cửa sổ chung quanh chúng ta, và những cửa sổ này hầu như lúc nào cũng mở. Tiếng Mỹ gọi nó là Windows. Rất giản dị nhưng sức hàm chứa rất lớn, rất kinh khủng! Từ một ngày rất xa của năm 1985 nhu liệu Windows ra đời. Có thể nói một cuộc cách mạng về thông tin của loài người. Ba mươi lăm năm trôi qua từ khi Microsoft Windows ra đời, lợi ích của nó không thể kể xiết vì hình như ngày hôm nay chúng ta có một công trình nào đó dù nhỏ hay lớn, tầm ảnh hưởng rộng hay hẹp cũng đều có mặt trong những cửa sổ này.
Thông tín viên Võ Thành Nhân (SBTN) vừa buồn bã loan tin: nhà báo Lê Văn Phúc đã từ trần vào hôm 7 tháng 8 năm 2020, tại Reston – Virginia. Tác phẩm (Tôi Làm Tôi Mất Nước) đầu tay của ông do Văn Hữu xuất bản năm 1985, và Thế Giới Ấn Quán tái bản – lần thứ 5 – vào năm 1989. Với thị trường sách báo hải ngoại thì đây là một hiện tượng hiếm hoi.
Tuy không không thành công hay hiển đạt (gì ráo trọi) tôi vẫn sống được như một người đàng hoàng cho mãi đến hôm nay là nhờ luôn ghi khắc (và biết ơn) những gì đã được học hỏi vào thưở ấu thời. Hình ảnh của những cô giáo (thiên thần) của tôi cũng thế, cũng mãi mãi in đậm trong tâm trí của một kẻ tha hương – dù tóc đã điểm sương.
Những năm thập niên 50 của thế kỷ trước, bịnh bại liệt (polio) đã gây ra hàng ngàn cái chết cùng sự bại liệt kinh hoàng cho các gia đình có con nhỏ bị lây nhiễm. Nó bị người dân Mỹ xem là điều đáng sợ thứ nhì, chỉ thua sau bom hạch tâm. Ngày 12 tháng Tư năm 1955, chính phủ thông báo thuốc ngừa bại liệt đầu tiên đã có và các hãng bào chế cấp tốc sản xuất hàng loạt thuốc chủng ngừa.
Chính phủ Đức vừa loan tin, nhà đối lập Alexej Nawalny ở Nga bị ám hại vì chất độc Nowitschok. Cách đây hai năm, ông Sergej Sripal người Nga ở Liên Hiệp Vương Quốc (Anh) và người con gái cũng bị hai sĩ quan tình báo từ Nga sang đầu độc bằng chất này. Chất độc này có tính năng ra sao? Và tại sao thế giới phương tây nhận diện được loại độc chất này? Bài viết sau đây cho biết một vài sự kiện liên quan.
Chỉ còn 5 tháng nữa tới kỳ Đại hội XIII của đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng 4 căn bệnh nan y “suy thoái tư tưởng-đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và “tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên chưa hề thuyên giảm khiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ăn ngủ không yên.
Đại Hội đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa đã kết thúc, cuộc đua giành chức Tổng thống chính thức bắt đầu và rõ ràng hai bên có hai cách tranh cử đối nghịch nhau.
Trung Cộng không phải là Trung Hoa. Cố tráo (trở) giữa Văn Minh Trung Hoa với Văn Minh Trung Cộng là một cố gắng vô vọng. Ép Khổng Tử phải làm cán bộ tuyên truyền cho cái thứ “Văn Hoá Cộng Sản” thì rõ ràng là đã biến ông thành một kẻ lố bịch và rất đáng thương. Tôi thương ông lắm!
Khi tìm hiểu công hay tội của một nhân vật lịch sử, người ta thường xét hoạt động hay công việc của người đó đóng góp như thế nào cho đất nước, dân tộc. Vậy thử áp dụng nguyên tắc nầy để đánh giá Hồ Chí Minh là người có công hay có tội trước lịch sử Việt Nam?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.