Hôm nay,  

Lời Tựa

13/11/201900:00:00(Xem: 5055)

Dòng đời như giòng sông vẫn miên man trôi, mặc cho bao sóng gió hay bão giông, tuy có lúc dữ dội qua ghềnh thác, có lúc êm đềm trôi xuôi. Những con đò vẫn ngày đêm dọc ngang trên sông, có lúc cắm sào nằm êm ả dưới gốc cây già bên bến nước. Dòng nước cuốn trôi tất cả, nước trôi đi như có mất bao giờ, ra biển cả rồi laị quay về nguồn. Chỉ tội những chiếc lá, những bơ vơ giữa giòng, khi thì giạt bên này, khi thì kẹt bên kia hoặc chìm xuống đáy sông. Những chiếc lá hoàn toàn bị đưa đẩy bởi giòng chảy, bởi con nước xuống- lên, bởi gió vật vờ ờ ỡm…

 Con người ta cũng thế, cứ sanh- tử, tử - sanh bất tận; từng đời vật vờ theo giòng chảy của thời gian. Sanh- lão- bệnh - tử là cái vòng quay miên viễn không ngừng. Đôi lúc gã du tử tự hỏi lòng: Mình sanh từ đâu? chết đi về đâu? Mình cứ mãi sanh- tử thế này sao? hoặc giả: Mình đến thế giới này để làm gì? Không lẽ cứ sanh ra lớn lên, rồi nhọc nhằn mưu sinh, rồi quanh quẩn với ngũ dục để rồi chết?  ý nghĩa của cuộc đời chỉ bấy nhiêu vậy sao? Và bao nhiêu câu hỏi không lời đáp vẫn đeo bám theo tháng ngày.

 Thế rồi một hôm gã du tử quay về nguồn cội, rong chơi với trăng nước, trời mây… ấy mà lòng dạ laị thấy thênh thang vô cùng. Gã du tử quay về học Phật, tự nhiên bao bận lòng, bao bụi bặm tự dưng rơi rụng tự bao giờ. Nhớ xưa  đọc thơ Phạm thiên Thư có gã lên động hoa vàng ngủ say, lòng hâm mộ biết bao. Dưới gầm trời này còn có động hoa vàng nhưng tiếc thay không mấy người biết, không mấy ai chịu tìm về để đánh giấc ngủ an nhiên, tự taị. Một giấc ngủ như con trẻ tâm còn thanh tịnh chưa vướng chút ưu phiền.

 Trấn Phù Dung có thật hay không có thật nó chẳng phải là vấn đề, nói như nhà thiền ta hãy lìa xa “ Tứ cú bách phi” bận tâm chi có hay không, chẳng phải có chẳng phải không có, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không… Phù Dung trấn vẫn tồn taị hay không tồn taị nhưng nó đã cho đời một câu chuyện, một giấc mơ, một lối đi về. Gã du tử của trấn tìm về nguồn cội để làm gì? để từ đó dần dần buông bớt chấp, xả bớt ngũ dục, không còn quá vướng bận bên này bên kia. Phù Dung trấn vẫn mơ màng như giòng sông giữa trưa hè nắng hạ, vẫn êm đềm trôi xuôi giữa mùa xuân.

 Người đâu, ta đâu?

 Nhặt cánh hoa đào

 Mai về bên ấy

 Một trời trắng mây

 (thơ- TLTP)

 Gã du tử rong chơi giữa đời, dù mưu sinh vất vả nhưng không vì vậy mà thui chột đi lòng lân mẫn với người, không vì vậy mà chai sạn với cảm xúc trong đời. Gã du tử vẫn mê “Mắt biếc má đào”, vẫn nhớ “Gót son vóc hạc hình hài”… Nhưng không vì vậy mà đắm chìm hay đọa lạc ấy cũng nhờ “Quay về nguốn cội”, quay về với Phật pháp

 Em về vàng hạ hoa dương

 Ngẩn ngơ ở giữa con đường bướm hoa

 ( Thơ – TLTP)

 Thế đấy! một chút ngẩn ngơ thôi vì đời vẫn đẹp dù rằng đời là khổ, những phút giây hiện tiền hoa bướm nhưng không lạc nữa bao giờ, ấy chính là “ Hiện xứ lạc trú vậy!

 Đạo Phật đồng hành với dân tộc cũng đã hơn hai ngàn năm rồi, những hình ảnh ông Bụt, những câu tục ngữ, ca dao như: “Gieo gió gặt bão”, “Ở hiền gặp lành”, “Thờ cha kính mẹ”… ít nhiều chứa đựng Phật pháp. Phật pháp không chỉ là những bộ kinh cao siêu, những giáo lý quá siêu đẳng như: Tánh Không, Bát Nhã… làm sao người bình dân hiểu nổi! Phật pháp trong đời thường thông qua những câu chuyện, những việc làm, lời nói đơn giản nhưng đầy ý nghĩa như cha mẹ khuyên con lễ phép hiếu thảo với ông bà. Ông bà dạy cháu ăn chay, phóng sanh, thương yêu loài vật, gìn giữ môi trường… Hoặc giả khuyên bảo con cháu không rượu chè, không gian dối, không trộm cắp… cũng đều là Phật pháp cả! Phật pháp bất ly thế gian pháp kia mà!

 Mùa hạ trấn Hoa Mộc Lan xanh biếc, lòng mơ tưởng về Phu Dung trấn xa xôi ngoài vạn dặm, nhớ về nguồn cội, ông bà, cha mẹ, nhớ những kỷ niệm xưa. Gã du tử viết những giòng chữ này xin kính cẩn dâng lên hai đáng sinh thành. Công ơn sinh thành dưỡng dục như trời biển, công ơn cha mẹ là một trong tứ trọng ân mà người con, người Phật tử phải luôn luôn ghi nhớ!

 Thân này từ giọt máu đào

 Thần này cha mẹ truyền trao nên người

 (Giữa Con Đường  Với Vết Trầm, thơ TLTP)

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành mùa hạ, 7/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.