Hôm nay,  

Mại Dô, Mại Dô

16/10/201900:00:00(Xem: 5669)

“Kính thưa bà con cô bác, hườn này bổ nhất, tật bệnh tiêu trừ, phẻ như ông kẹ, tể này thậm phê, ông uống bà khen… maị dô, maị dô, tiền trao cháo múc, mua một tặng hai… maị dô, maị dô…” gánh Sơn Đông Mãi Võ của nhóm Thập Môn Đường vừa múa võ bán thuốc tể, hườn, đan, cao đơn hoàn tán…Anh lực sĩ nằm trên bàn chông cho người khác lấy búa tạ đập mà không hề hấn gì. Người ta xếp lớp vòng trong vòng ngoài, vừa coi vừa reo hò thán phục; tiếng vỗ tay rào rào, tiếng bạc cắt quăng vào lon bơ lẻng xẻng. Xéo bên góc Trần Bình một nhóm khác đang biểu diễn môtô bay. Cái thùng gỗ như thùng nước mắn nhưng to ơi là to. Các tay xiếc cho xe chạy vòng vèo bên trong thùng, tiếng reo hò ầm ĩ, tiếng xe inh ỏi gầm rú, mùi khói xăng dầu xông lên muốn ngạt thở… ấy vậy mà gã cùng cậu em họ coi say mê, một suất chưa đủ phải chen lấn mua coi thêm xuất nữa…

  Chợ lớn những tháng ngày năm ấy thật đẹp và êm đềm. Gã thích ra chợ lớn đi dạo quanh tượng ông Thông Hiệp (tên thật là Quách Đàm) có bốn con rồng chầu phun nước! sỡ dĩ người ta kêu là Thông Hiệp vì có người tặng ổng câu đối:

Thông thương sơn hải

Hiệp quán càn khôn

 (Thông thương sơn hải thì hợp lý, có lẽ vì ông là tay thương lái cự phách, mua bán nông-lâm-hải sản cự phách, tất cả sản vật của núi rừng, biển cả hay ruộng vườn… xuất đi khắp các xứ xa gần. Câu sau thì đaị ngôn, quá lối làm gì mà đến hiệp quán càn khôn, tác giả tâng bốc quá đáng!)

 Đã ra chợ Lớn thì phải ghé qua hàng trái cây, chạy dọc mé Trần Bình. Mùi sầu riêng, xoài…thơm bể lỗ mũi, không chỉ muì trái cây mà còn mùi sình lầy cống rãnh thum thủm bốc lên, mùi rác rến úng thối…nó quyện vào nhau làm thành một cái mùi không sao tả được, dù đã ba mươi năm mà không thể quên được mùi trái cây ở mé đường Trần Bình.

 Gã và người em họ đèo nhau trên chiếc xe đạp rong ruổi quanh chợ Lớn, những khu vực sau lưng chợ Lớn như cầu Ba li Kao, những con kênh đặc quánh rác, đen ngòm; những địa danh như: lò Gà, lò Đất…rặt người Hoa, không có một mống Việt, Tiếng Tiều là dĩ nhiên. Những khu này nó giống những thị trấn nào đó bên Tàu ở thế kỷ 18… cuộc sống, lịch sử gần như dừng ở đây mặc ngoài kia xe cộ nườm nượp, phát triển thế nào thì phát. Gã thích ăn hàng, những xe bột chiên, trái cây, sương xáo… quả thật bá cháy! đặc biệt xe kem Tân lạc Viên là không thể nào quên với món kem sầu riêng. Sau ba mươi năm nhưng bây giờ nó vẫn còn đấy những xóm người Hoa vẫn như ngày nào! Dù chưa về ghé thăm nhưng qua những người thân thì những xóm ấy vẫn thế, không có gì thay đổi mấy, vẫn mãi  giống như những tiểu trấn Tàu ngày xưa. Mặt tiền bên ngoài với những: Trang Tử, Đồng Khánh, Châu Văn Liêm… vẫn là những China Town như những China Town khác trên thế gian này! cái đặc trưng tương đồng nhau: tiếng Hoa thống trị, mua bán đủ thứ, ồn ào, dơ dáy…và thức ăn thì…người Việt mê tít thò lò!  Người Hoa dù đi đâu, sống ở đâu, dù bao đời…Họ vẫn nói tiếng Tàu, viết tiếng Tàu…Họ chỉ biết có Taù của họ thôi. Họ gần như không đếm xỉa gì đến những miền đất nuôi họ, dung chứa họ. Tâm hồn họ, ngôn ngữ họ, chủng tộc họ, phong cách họ… chỉ có một chữ Tàu, cho dù họ sống ở Chợ Lớn, Paris, London, Los Angeles… thậm chí ở mặt trăng! Họ có thể là những ông trùm, những băng đảng, hay những người lao động hiền lành chấc phác…

 Chợ Lớn không phải là trái tim của Sài Gòn nhưng nó là đãy bạc, là nồi cơm của Sài Gòn. Những ngày tháng ấy, Chợ Lớn cung cấp cho SàiGòn, cho cả nước… những món hàng gia dụng cho cuộc sống hàng ngày. Ông Thông Hiệp là một tay cự phách, từ người di cư nghèo khổ mà gầy dựng nên cơ nghiệp lẫy lừng, hàng hoá nông sản xuất sang các xứ: Mã lai, Phi Luật Tân, Tân gia Ba…và cả Pháp nữa. Ngày ngay cơ nghiệp vẫn còn đấy: Nhà lồng Chợ Lớn, các dãy nhà quanh Chợ Lớn…Ông ra người thiên cổ nhưng gia sản vẫn còn đây! 

  Cứ mỗi mùa hè là gã được ngoaị dắt lên SàiGòn chơi. Gã với người em họ đèo nhau rong ruổi khắp SaìGòn- Chợ Lớn. Người em họ của gã là một tay tháo vát, chiếc xe đạp của y gắn toàn đồ xịn nên chạy nhẹ và êm lắm. Những năm ấy xe máy rất ít, chỉ có vài nhà còn giữ được, chiếc Honda Dame hay chiếc Honda 67. Nhớ có lần hai đứa đèo nhau từ Chợ Lớn lên Sài Gòn chơi. Gã sờ vào cánh cổng dinh tổng thống mà thấy xốn xang lạ lùng, một cảm giác thật không sao tả nổi! (rồi nhiều năm sau đi chơi Huế, gã laị sờ phiến đá của tường thành laị có một cảm giác cũng lạ lùng y như thế!) . Sài Gòn năm ấy còn ít người, xe cộ không bao nhiêu nên còn sạch sẽ, thơ mộng, xanh và đẹp lắm!  người ta đồn đại:” Ăn quận Năm, nằm quận Ba, hát ca quận Nhất” , quả không sai tí nào, muốn ăn ngon thì nhất định phải về Chợ Lớn. Người Hoa là vua của việc mua bán, nấu nướng mà!  mấy ông Xì Thẩu bụng phệ, cởi trần trùng trục, giắt cái khăn vào cạp quần xà lỏn, tay cầm hai cái xẻng xúc, cào lẻng xẻng trong cái chảo… mùi thức ăn thơm nức mũi, khách ngồi chờ nuốt nước miếng cái ực khi mà dĩa mì xào, hay hủ tiếu xào được mang ra!  Chợ Lớn là thế…Ba mươi năm rồi mà mùi trái cây và mì xào Chợ Lớn vẫn cứ thơm trong hốc mũi không phai.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.