Hôm nay,  

Tờ lịch

22/06/201910:43:00(Xem: 7460)

Hồ Thanh Nhã

 

 

                          Tờ lịch

 

Em gởi cho anh tờ lịch năm nay

Nhắc lại ngày nầy năm ngoái

Chuyến xe đêm về phố núi mù sương

Trời trở lạnh trên đỉnh đèo bỏ lại

Đường Hai Mươi trăng trải sáng ven rừng

Xa thật rồi thành phố sau lưng

Về đất núi … nơi bình yên chim hót

Đây Lang Biang

Đỉnh trời cao chót vót

Người Tây ba lô thong thả bước du hành

Anh đưa em về đỉnh núi màu xanh

Cùng dạo bước

Thênh thang trong vùng mây trắng

Mây trắng trong thơ ngày xưa xa vắng

Còn dư âm một thoáng tiếng bên trời

Đà Lạt đây rồi !

Phố nhỏ xa xôi

Đất núi Cao nguyên hoàng triều cương thổ

Tiếng thác đổ

Lưng chừng trời còn đó

Lưng chừng trời con suối chảy quanh quanh

Nhịp cầu treo chênh vênh

Cây đỏ lá trên cành

Anh hỏi em ngày nầy thứ mấy ?

Chút nắng nhẹ vờn trên bờ tóc rối

Thứ mấy ngày nầy hoa nở trắng công viên  ?

Bờ khe nhỏ bên triền

Con chim hót bình yên

Lòng thấy nhẹ như mây trời phiêu bạt

Tháng Giêng cỏ non đồi xa bát ngát

Xanh mượt mà bên sườn núi xanh lơ

Tìm gì trong hẻm núi

Thấy gì trong hoang sơ ?

Hàng thông còn đứng bên bờ quạnh hiu

 

                               *

Đưa em thăm đất hoàng triều

Ngậm ngùi thay cho cuộc đời hưng phế

Nước chảy hoa trôi một thời dâu bể

Dinh thự im lìm mờ nhạt bóng hoàng hôn

Ta nhìn nhau lòng bỗng tự nhiên buồn

Cành lan tím…đong đưa theo đợt gió

Đàn ngựa gặm cỏ non

Bên hồ Than thở

Mây ngàn năm còn bay trắng lưng trời

Thật bình yên

Đàn vịt nước đang bơi

Hồ gợn sóng theo từng cơn gió nhẹ

Anh chợt nhớ như ngày xưa còn bé

Ngủ yên lành

Qua nhịp võng ầu ơ

Tiếng mẹ ru từ một thuở xa mờ

Nhẹ…rất nhẹ đưa con vào giấc mộng

Cám ơn em

Cho năm dài tháng rộng

Biết bao giờ

Trở lại rừng núi hôm nay ?

Những bước chân đi

Từ năm trước ngày nầy

Dấu giày cũ như in trên tờ lịch mới

Nhận tờ lịch năm nay

Lòng vui như mở hội

Năm ngoái ngày nầy vào đêm thứ bảy

Đà Lạt cuối tuần đón khách miền xa

Người hồi hương

Thấy lòng mình trẻ lại

Chào mùa Xuân mai nở rực sân nhà

Tờ lịch năm nay

Vào ngày thứ ba

Tháng Giêng rét đậm xám làn da

Thấy chưa…hơi nước hòa hơi thở ?

Càng lạnh càng thêm nỗi nhớ nhà

 

 

      Nét quyến rũ của thành phố Đà Lạt mộng mơ.

 

Trong không khí miền cao se lạnh, cao nguyên Lang Biang huyền thoại thích hợp cho những hoạt động du lich dả ngoại tham quan ngắm cảnh, cắm trại qua đêm, đi bộ qua những con đường nhựa nhỏ xuyên qua các cánh rừng thông kỳ vĩ.  Từ trên đỉnh núi, xa xa có thể thấy Suối vàng, Suối bạc và toàn cảnh Đà Lạt trên cao với màn sương giăng bao phủ níu chân du khách, không nở rời thành phố mộng mơ.

Với rừng thông bạt ngàn, nhiều hồ nước sông suối, Đà Lạt sở hữu một loại khí hậu tuyệt vời. Buổi sáng sớm là thời tiết mùa Xuân, buổi trưa mùa Hạ, buổi chiều mùa Thu và đêm là mùa Đông.  Do đó du lịch Đà Lạt thì lúc nào cũng mát dịu, nên thơ.  Hoa được trồng khắp nơi ờ thành phố mộng mơ nầy. Hoa nở trên dọc theo hai bên đường từ sân bay Liên Khương về trung tâm thành phố.  Hoa mọc đầy theo các sườn đồi, các con đường dốc dẫn đến những khu vực ngoại ô, làng xã ven thành phố.  Thiên nhiên ưu đãi Đà Lạt với khí hậu ôn hòa, thiên đường của nhiều loài hoa.  Người Đà Lạt từ lâu vẫn giữ thói quen đẹp là người người trồng hoa, nhà nhà trồng hoa.  Bước ra khỏi cửa khách sạn là thấy hoa ở khắp nơi, trong ngõ, ngoài phố.  Tất cả những hình ảnh đó đã tạo nhiều ấn tương tốt trong lòng du khách, đã tới nơi rồi thì không nỡ rời thành phố sương mù nầy.  Sau đây xin mời quí vị độc giả đọc tiếp một bài thơ khác của tác giả :

 

 

                              Hồng hạc

 

Hồng hạc bay về núi

Sương lam kín bóng chiều

Em về chi quá vội ?

Quên cái nhìn gởi theo

 

Hạt sương đầu ngọn cỏ

Ngại ngùng cơn gió qua

Tiếng hạc rền trong gió

Bàng bạc bóng chiều xa

 

Một lần tìm về nhà

Vườn xưa giờ thấy lạ

Giọt mưa còn trên lá

Cuộc tình đã bay xa

 

Em là chim hồng hạc

Nghỉ cánh bờ đá xanh

Vụng về chim bay mất

Bên cõi đời mong manh

 

Mai kia về cố quán

Chập chùng mây trắng bay

Đường đời chia mấy đoạn

Lấy gì cho nhau đây ?

 

Hồ Thanh Nhã    

 

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.