Hôm nay,  

Hội ngộ

15/06/201909:16:00(Xem: 6177)

Hồ Thanh Nhã

 

          Hội ngộ

 

 

Bốn tư năm đi qua

Nhăn nheo vầng trán hẹp

Cuộc đời xưa đã khép

Cho cõi lòng xót xa

 

Anh đến từ bờ Đông

Mùa nầy cây đỏ lá

Nghẹn ngào nơi xứ lạ

Bát ngát tình núi sông

 

Anh về nơi biển Nam

Mưa sụt sùi bán đảo

Vài con chim báo bão

Trốn gió bờ đá xanh

 

Anh mang thắm thiết tình

Chút nắng vàng Châu Úc

Xa rồi thời hỏa ngục

Cửa khép đời chiến chinh

 

Nầy anh cho hỏi nhé!

Mùa nầy sông đóng băng

Đàn chim di trú bé

Hẳn đã về phương Nam?

 

Long lanh hàng nước mắt

Rõ trên bờ mi đen

Bàn tay nghe ấm áp

Ánh nắng bờ sông Seine

 

Khóm xương rồng sa mạc

Tình người Nevada

Ai qua Thung lũng Chết

Cho đen sạm làn da?

 

Một chiều xưa Tân Cảnh

Trên lối mòn âm u

Chiến xa vừa trúng đạn

Rực sáng ánh sương mù

 

Người đi qua cõi chết

Người từ giã lao tù

Người về từ xứ tuyết

Người đến từ thiên thu

 

Bốn tư  năm hội ngộ

Mỏi mòn chuyện lứa đôi

Bốn tư  năm sương gió

Ánh mắt thay môi cười

 

Năm nao đi chiến dịch

Lửa đỏ trời Trị Thiên

Năm nao ngàn vết xích

Cắt nát vùng Tây Nguyên?

 

Ánh hỏa châu rực rỡ

Xé rách màn đêm đen

Mùa nước về châu thổ

Ngang dọc khắp bưng biền

 

Đêm nao rời đất giặc?

Lấp lánh trời sao đêm

Sương rơi trên pháo tháp

Lạnh buốt đôi vai mềm

 

Người về từ An Lộc

Người đến từ Chu Pao

Đánh lớn vùng Tam giác

Vết thương chiều Xuân nào

 

Điếu thuốc chuyền tay đỏ

Trên đỉnh đèo An Khê

Dãy Poncho nằm đó

Chờ trực thăng đưa về

 

Người để lại bàn tay

Mùa Hè xưa lửa đỏ

Kẻ ngập ngừng nạng gỗ

Bậc thềm cao bên nầy

 

Đâu ngày xưa mây trắng

Rừng úa lá biên khu?

Đôi mắt còn khoảng trống

Lặng lẽ kiếp đui mù

 

Vết thương chưa kín miệng

Còn đỏ hỏn da non

Người giã từ cuộc chiến

Nhếch mép cười héo hon

 

Bốn tư  năm tương phùng

Nhìn nhau mà lệ ứa

Mùa Xuân không còn nữa

Cuối cuộc đời lưu vong …

 

             Hồ Thanh Nhã.

 

 

Cuộc chiến đi qua đã hơn 44 năm rồi Những người lính Thiết giáp trẻ năm xưa  bây giờ đã già hết rồi. Dấu ấn thời gian để lại hình ảnh những mái tóc bạc. rụng răng móm mém, chiếc xe lăn. chiếc gậy chống..Lưu lạc nơi xứ người quá lâu. họ nhớ quê hương. nhớ thân bằng quyến thuộc. nhớ từng địa danh mà họ đã đặt chân qua từng vùng chiến trận trong suốt cuộc đời chinh chiến của họ. Bởi vậy họ tổ chức những ngày họp mặt binh chủng hằng năm cho từng địa phương và ngày Đại hội Thiết giáp thế giới 2 năm một lần. ở nhiều tiểu bang khác nhau. Năm 2015 tổ chức ở San Jose- Bắc California -, năm 2017 họp mặt ở Westminster-Nam California- và năm nay 2019 tổ chức ở Tampa –Tiểu bang Florida-.Ai ai cũng mong đợi tới ngày Đại hội để gặp lại nhau.Gặp nhau để mừng mừng tủi tủi là bạn mình vẫn còn sống. Gặp nhau để ôn lại những kỹ niệm xưa nhắc lại những người bạn đã nằm xuống. Kỷ niệm chập chùng đã đi qua từng mái đầu bạc. nhưng tâm tình những người lính già vẫn còn nguyên như ngày xưa. lúc còn khoát áo lính.Đó là tình huynh đệ chi binh.

Có người bạn gởi thiệp mời con gái lấy chồng. kèm theo thư là bức ảnh cưới cũ mèm của anh chị ngày xưa. Ảnh chụp tập thể bạn bè dự đám cưới anh chị hơn ba mươi mấy năm trước. trong đó có tác giả dự. Để chi vậy ? Để cho tác giả ôn lại hình ảnh bạn bè cũ. ai còn ai mất? Xin đọc bài  ; Ảnh cưới ngày xưa  như sau :

 

 

                   Ảnh cưới ngày xưa

 

Bạn gởi thiệp mời : con xuất giá

Kèm theo ảnh cưới bố ngày xưa

Ba lăm năm cũng cho là ngắn

Chớp mắt qua rồi chuyện gió mưa

 

Đám cưới đơn sơ màu áo lính

Khách mời toàn lũ khách nhà binh

Cô dâu chẳng có vòng hoa cưới

Mà mắt long lanh thắm thiết tình

 

Những chàng khách trẻ còn lông mép

Bên cạnh người yêu tuổi học trò

Tiệc cưới ba ngày. ra chiến trận

Tình đầu cân lượng nhẹ như tơ

 

Bạn bè đáp nghĩa cùng sông núi

Tuổi trẻ ngang tàng chí trượng phu

Sinh tử xem chừng gang tấc đó

Nào ai. ai biết cõi sương mù?

 

Mưa chớm đầu mùa đi chiến dịch

Ôi! Tuần trăng mật cũng ô hô

Khi bình hoa cưới chưa tàn héo

Đã tiễn chồng theo bước hải hồ

 

Bảy chàng hảo hớn đôi mươi đó

Có bốn người đi chẳng trở về

Có bốn mái đầu. xanh suối tóc

Khăn tang hờ hửng. khuất trăng thề

 

Ảnh cũ người nay…ba chiếc bóng

Mỏi mòn thân thế trắng đôi tay

Nửa đêm thấy bạn về đâu đấy

Tỉnh giấc…còn thương giấc mộng dài

 

                       Hồ Thanh Nhã

 

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.