Hôm nay,  

Lại Ngày Sinh

08/06/201908:53:00(Xem: 7740)

LẠI NGÀY SINH

 
Nguyễn Q.

 

Tưởng như vừa gởi đăng ở Việt Báo bài “Ngày Sinh” để bạn bè đọc cho vui, thế mà đã hai năm! Hôm nay Lại Ngày Sinh. Có gì thêm, có gì thay đổi trong hai năm qua cho một bài viết mới?
 

Đầu gối bị đau từ lúc đi CambodiaMyanmar về năm ngoái vẫn chưa lành. Đi therapy, uống thuốc tây, rồi thuốc tiên, thuốc gia truyền thấy trên Internet (lá lốt, cà tím…) không thấy tác dụng chi. Tuần rồi gặp anh bạn bác sĩ, khuyên nên nghỉ đánh tennis và… giảm cân, hai điều đều khổ như nhau. Trước đây, anh vẫn thường gởi cho đọc những bài mới về BMI. Với người Mỹ, 25 là tốt, với ngưòi Á Đông là dư cân! Giảm cân, theo anh, sẽ còn giúp giảm mở, giảm huyết áp…để sống lâu, sống mạnh. Rồi một người bạn bác sĩ khác bày phương pháp co giãn chân mà một bệnh nhân đã nói với anh là rất hiệu quả và năm ngoái tạp chí y khoa cuả Harvard có đề cập đến. Bảo đảm đầu gối sẽ lành! Hỏi mỗi ngày phải tập bao lâu, anh nói chừng một tiếng thôi. Đào đâu ra thêm sáu mươi phút trong khi đang cần hai mươi lăm giờ mỗi ngày để làm những điều mình cần, mình muốn?

  

Có người bạn lâu ngày không gặp hỏi khi nào mới chịu retire để enjoy life vì đâu còn bao lâu nữa mà chờ. Đúng thế, từ đầu năm tới nay đã có ba người bạn cùng lớp ra đi. Nhưng chính vì đời sống vô cùng ngắn ngủi mà phải luôn tự hỏi phải sống như thế nào, để làm gì.  Để, như Tô Thùy Yên, Ta tiếc đời ta sao hữu hạn, Đành không trải hết được lòng ta? Hay, như Trịnh Công Sơn, sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không, để gió cuốn đi?
 

Càng ngày, càng nhìn ra cuộc đời như chuyến xe lửa chạy hoài tới nơi vô định. Những người ngồi chung toa tàu với nhau rồi sẽ có lúc đứng dậy đi qua toa tàu khác và có thể không bao giờ trở lại gặp nhau. Mọi người rồi sẽ tới lúc vĩnh viễn bước xuống tàu để người khác bước lên. Những người còn ngồi lại sẽ tiếp tục làm những việc đang làm và chuyến tàu tiếp tục chạy không chờ ai. Như thế thì có gì để bận tâm?
 

Càng ngày chuyện về hưu càng thúc bách hơn. Ngồi làm việc mà cứ nhìn ra ngoài tự hỏi sao mình còn ngồi đây trong khi biết bao nhiêu điều đang chờ ngoài kia. Làm budget cho department năm tới, soạn thông báo cảnh cáo users đừng có thấy mấy cái email báo tin được trúng giải thưởng nầy, giải thưởng kia rồi ham để click vào mấy cái link mà đổ nợ. Rồi lo lắng tìm cách bảo vệ cái network của công ty khỏi cyber attack, sửa lại cái sales report  sainhững điều đó mang được gì thêm cho đời sống hiện nay ngoài tấm paycheck mỗi hai tuần, cái bonus cuối năm, mà mỗi ngày mỗi bớt thiết yếu.

Chắc anh bạn hỏi chuyện về hưu thất vọng não nề khi nghe mình nói tới những chuyện sẽ làm mà không có việc ra quán uống café mỗi sáng, nghe những người quen biết trao đổi thông tin về cái camera nhà nghề, cái ống kính rất đắt tiền sắp mua, chiếc xe mới tậu, hay tranh luận sôi nỗi chuyện thế sự trọng đại, tại sao Kim Jong Un giết người nầy mà chỉ bỏ tù người kia, để rồi vài hôm sau thấy trên TV người ông Kim mới vừa giết đi nghe nhạc giao hưởng với ông …

Chỉ muốn sống nhẹ nhàng, thanh thản và tỉnh thức, vì thế mà phải gắng bớt ăn, bớt nói, buông bỏ những thứ không cần thiết và giảm bớt đi lòng kỳ vọng ở người khác để thêm cảm thông. Ai cũng có giới hạn của mình. Có người cố gắng vượt lên, có người bằng lòng với nó, để rồi cuối cùng ai cũng sẽ bước xuống tàu!

Rồi mắt chỉ muốn thấy cái “đẹp”, không chừng vì thế mà thích photography, vì ống kính chỉ hướng về, và ghi lại, cái đẹp. Tai chỉ muốn được nghe những điều hay chưa biết. Muốn dùng thêm thì giờ để học, học và học. Làm vài ba việc một lúc nhưng vẫn cứ tự trách mình không sử dụng thì giờ hiệu quả. Bởi thách thức luôn luôn đối diện là vượt hơn một người khác: bản thân chính mình của một giờ vừa qua, của một ngày hôm trước…

 

**

 Mấy hôm trước người con thứ ở New York gởi text. Will you be free on June 15-16? We want to get you something for your birthday and father’s day, but you will need to have that weekend off.  rồi ngay tức khắc thêm một text nữa I know you will say you do not need anything, and we know. We want to give it to you anyway.

Không thắc mắc nhiều về những ngưòi con định sẽ get gì cho mình trong weekend đó. Chắc là ở một resort nào đó, có người hầu kẻ hạ? Nhưng có resort nào bằng những buổi sáng ra biển khi trăng sớm mai còn treo trên lưng chừng trời, nghe tiếng sóng biển vổ bờ, tiếng gọi nhau của những đàn chim đang bận rộn kiếm ăn. Feel được cái lạnh nhẹ nhàng của buổi sớm mai len vào trong da thịt. Tưởng như cả trời biển mênh mông là chỉ của riêng mình. Ai mà cho được những thứ nầy!  Đôi khi còn chụp được vài tấm hình ưng ý, đem về sang lớn treo trong phòng làm việc hay bỏ vào trong cuốn lịch hằng năm làm quà Giáng Sinh cho bạn bè thân cận. Resort nào bằng những lúc đi dọc theo bờ sông Kamo ở Kyoto khi trời vừa hừng sáng, nghe tiếng nước nhẹ nhàng chảy xuôi phía dưới, có mấy con chim đậu trên mấy tảng đá lớn giữa dòng bình yên. Hay những lúc cùng nhau đi tìm một quán cà phê mới mở gần nhà ở New York, nhỏ nhắn và chật hẹp mà đầy cá tinh, nói với nhau đủ mọi thứ trên đời.

CHO là bố thí nhưng biết NHẬN cũng là bố thí. Như chuyện kể có vị sư luôn luôn đội một chiếc mũ rất cũ kỹ. Những người đi chùa thấy thế tội nghiệp không đành, ai cũng đem cho một cái mũ mới và nhà sư vui vẽ nhận hết, không bao giờ nói mình đã có nhiều rồi để từ chối. Khi nhà sư chết, người ta tìm thấy trong phòng của vị sư nầy toàn là mũ với mũ không bao giờ dùng tới. Chỉ vì biết nhận, vị sư đã đem niềm vui tới cho người.

Mình dĩ nhiên là không được như thế, nên trả lời con là cám ơn đã nghĩ tới mình nhưng xin cho khất lại. Hay là để cuối tháng khi về Việt Nam ăn một bữa tối với nhau, nhìn hoàng hôn trên sông Sàigòn, cũng đã đủ cho cả hai dịp nầy rồi. Luôn thể, cám ơn lần nữa về cái vé business class đi Việt Nam mấy người con mua cho mà bây giờ vẫn còn bàng hoàng, vô cùng áy náy khi nhớ tới, vì nghĩ mình phí phạm. Mỗi khi đi máy bay, việc đầu tiên là vào phòng vệ sinh đánh răng rửa mặt rồi trở lại ghế đeo cái noise cancelling head phone nghe nhạc hay coi chút TV, đọc tiếp cuốn sách dở dang. Nếu đi công chuyện thì làm việc cho sở. Thế là xong. Chẳng muốn ai phục dịch, chẳng muốn làm phiền ai… thì tại sao phải trả thêm mấy ngàn cho một cái ghế rộng hơn, êm hơn trong chỉ mấy mươi tiếng đồng hồ, cho những dĩa thức ăn, những ly bia rượu mình không màng rớ tới. Nếu dùng số tiền sai biệt rất lớn giữa cái vé nầy với cái vé economy để chia cho mấy quán cơm sinh viên hay cô nhi viện ở Việt Nam, hay giúp những em học sinh giỏi mà nghèo chẳng hạn, thì hoành tráng hơn nhiều. Nhưng thôi, vì thương con, mình phải học cách nhận cho con vui.

Mấy tháng trước có mấy người quen trong tổ chức làm medical mission ở Việt Nam nhờ làm dùm cho cái website để đăng tải nhiều chương trình mới. Nói với họ rất tiếc không thể giúp trực tiếp được vì đã lỡ commit một chuyện khác rồi, sẽ không có nhiều thì giờ cho nhiều năm sắp tới, nhưng sẽ kiếm giúp người làm và không chừng còn kiếm được người tài trợ. Họ hỏi chuyện gì mà commit tới mấy năm, đành thưa thiệt là đã tìm ra người để học piano. Không ai tỏ vẻ ngạc nhiên hay “bàn ra” chi cả vì tới tuổi nầy sao lại còn đèo bồng, làm chi những chuyện khó khăn. Có lẽ vì họ ở đây đã lâu nên tiêm nhiễm văn hoá “yes, you can”, “just do it”.

Nhớ những lần tình nguyện đi chụp hình ở mấy cái marathon chạy ngang qua sở. Nhiều người chân giả, chạy khập khiểng, bụng to như không bao giờ có thể cúi xuống cột giây giày cho mình được mà vẫn chạy. Và những người tình nguyện làm việc ở cái water station xách mấy ly nước chạy theo reo hò cổ vỏ. “You can do it, you can do it…” Ai cũng vui, làm mình năm nào cũng muốn đi. Có một năm tấm hình bàn tay của một người Mỹ đen đang dúi một ly nước vào tay một người Mỹ trắng đang chạy được chọn đăng ở bìa báo. Quá nhiều điều học được ở nơi nầy!

Nói với cô giáo dạy piano là mình không có tham vọng gì nhiều. Chỉ ước ao một ngày nào đó mình có thể ngồi trước cây piano, trải lòng ra qua những bài hát đã nuôi dưỡng mình lớn lên, mà nay vẫn còn đâm chồi nảy lộc. Ngôn ngữ dù tinh tế tới mấy cũng có giới hạn, không bắt kịp, không chuyên chở hết cảm xúc. Hội họa dù trừu tượng cách nào cũng còn màu sắc và bố cục. Làm sao chỉ 12 nốt nhạc mà tả được một đêm trăng, và mỗi người nghe có một đêm trăng của riêng mình!

Nói là không tham vọng nhưng như thế cũng là quá tham vọng rồi. Có thể được không, làm sao và bao lâu để đưa được những gì biết hay đang học qua sách vở, video, internet về lý thuyết âm nhạc, về practice routines, fingering, Circle of Fifth … …ra những ngón tay, đủ để trải lòng mình ra mà không làm phiền hàng xóm, nói chi đến cho tiếng đàn lung linh như anh dạy keyboard trước đây hay nói. Nếu không làm được như thế thì mớ hiểu biết nầy chỉ như những cuốn sách bám bụi trên kệ, như những con số nằm trên bank statement.

Dù mình chỉ muốn có một cái nhà tranh vách đất làm chổ trú thân nhưng không thể nào muốn cô giáo nầy, một người tốt nghiệp piano ở Quốc Gia Âm Nhạc ra, chỉ cấp tốc giúp làm một nền nhà bằng gỗ. Như thế chẳng khác gì vào một Michelin starred restaurantorder một tô mỳ ăn liền cho mau. Nền phải đào móng sâu, xi măng cốt sắt…vững chắc, rồi sau nầy xây gì lên sẽ tính sau, tùy khả năng của mình… Có khả năng thì xây nhà lầu mấy tầng hay, như sức mình đây, học trước quên sau, tới một bước lùi hai bước, chắc chỉ làm được một cái chòi.  Vì thế mà mấy tháng qua dù có hiểu thêm về dynamics, legato, non-legato, staccato, crescendo, decrescendo…vẫn quanh quẫn với cái C scale, rồi Gmajor scale, arpaggios, vỗ tay giử nhịp..., chưa đờn được bài nào cho trọn vẹn.

Cô giáo dạy nhạc, chắc cảm thông với người lớn tuổi, và còn thêm tình đồng hương, nên chỉ nhẹ nhàng nhắc chừng phải ngồi thẳng lưng, những ngón tay đừng duỗi thẳng, nhưng chưa tới mức mấy ngón tay sao mà thô cứng thế, gỏ phím đàn nghe như bửa củi…như vẫn thường nghe ở mấy video dạy piano ở Viêt Nam.

Trước đây, cứ áy náy với anh dạy keyboard, nay thêm cô dạy piano, đã nhận dạy cho mình. Ai cũng có điều lầm lỡ! Nhưng không sao, cứ cố gắng và kiên trì phần mình thì cũng…sẽ có một ngày – cho dù ngày về xa lắm người ơi!

 

**

Cuối tháng Sáu nầy về Việt Nam mà chỉ ở Huế chưa được tới hai ngày, với biết bao nhiêu điều muốn làm, muốn thấy, muốn thăm. Đã mấy mươi năm vật đổi sao dời, tốt có, xấu có mà vẫn tưởng như còn ở đó chưa đi.

Ông Trần Lãng Minh có bài hát rất hay, Khách Tha Hương. Ông ví người tha hương như con diều, cần sợi dây “quê hương” níu lại để có thể bay cao. Cứ tưởng cắt đứt giây thì diều sẽ bay cao lắm, nhưng không, diều sẽ “rớt xuống ven đê”. Có lần gặp Ông ở quán nước, nói với Ông mình vẫn giữ bài hát trong xe để nghe luôn. Ông cảm động lắm, quay qua nói với vợ, Em, Em, anh Q. đến bây giờ mà vẫn còn giữ bài Khách Tha Hương trong xe để nghe đó Em.

 

Tuần trước có người bạn gởi cho bài viết cuả một người du khách Việt Nam thăm Huế. Anh thắc mắc tại sao du lịch Huế không phát triển bằng Đà Nẵng hay Hội An và đã tìm ra câu trả lời trong … chợ Đông Ba. Anh viết:  

Và sợ nhất là cảnh chèo kéo người đi chợ. Năm người chúng tôi bị những người bán hàng mời mọc, kéo tay, níu chân làm có người suýt ngã vào mấy vũng nước mưa. Những người bán hàng có ánh mắt dò xét hơn là cái nhìn cởi mở của kẻ bán hàng. Lại có những lời bình phẩm sau lưng chúng tôi, những lời nói không hay chút nào khi chúng tôi không dừng lại để vào hàng của họ... Món ăn không ngon như đã nghĩ, thấy bẩn bẩn, giá lại chẳng rẻ chút nào, Đến khi vào nhà vệ sinh thì thay vào cảm giác chán ngán là sự kinh hãi…. Xe qua hầm Hải Vân, đến trạm xăng đầu tiên của thành phố Đà Nẵng, bước vào phòng vệ sinh ở đấy, một cô lên tiếng: Giờ mới lại thấy được văn minh. Và tui cũng trả lời được thắc mắc mấy lâu nay là tại sao du lịch Huế chậm phát triển.

Và, thêm nữa, Anh bình luận: Hình như người Huế ưa xét nét người khác. Tội nghiệp quá cho Huế của tôi!

Bài viết nầy nhắc nhớ tới chuyện người con lớn, năm ấy theo cha đem tro của bà nội về an táng ở làng quê. Lễ xong, gia đình ngồi lại ăn con gà cúng, và bỗng nhiên có một bà cụ già không quen biết tới tham dự, ngồi ngay trước mặt người con. Có lẽ lâu ngày bà chưa ăn thịt gà nên rất vội vã, thức ăn dính đầy miệng và mấy miếng xương gà vung ra dính ngay áo người con, thế mà anh chàng vẫn điềm tĩnh ngồi ăn, không nói một lời, vẻ mặt không lộ ra một chút bực dọc, “ghê sợ” nào. Lúc đó hai mươi mấy tuổi, lần đầu tiên về Việt-Nam cho biết cảnh xóm làng.

Bài học anh chàng dạy mình vẫn nhớ và cố gắng thực hành cho đến hôm nay.

**

Lần nầy, phải đi thăm “không gian trưng bày Lê Bá Đảng” vừa mới hoàn tất. Không phải chỉ là một hoạ sĩ lẫy lừng mà là người chưa bao giờ rời xa quê hương mình, tâm hồn ông luôn gắn bó với quê nhà và toàn bộ sự nghiệp nghệ thuật của ông chỉ phản ánh tình yêu thương muôn mặt đó.    
     

Rồi dù bận mấy cũng phải thăm mộ người anh họ vừa mất, bàng hoàng khi nhận tin mấy tháng trước. Năm ngoái về Huế ngồi với nhau nói chuyện ngày xưa, nhắc tới những miếng mè xửng rẽo mà thỉnh thoảng mới có tiền để mua chia nhau. Trước khi rời Huế, Anh mang đến cho một bao toàn là mè xửng loại cao cấp nhưng kèm theo mấy bao rẽo, ý nhị giúp mình nhớ tới mà thương những ngày xưa. Chắc Anh đã dùng hết món tiền nhỏ biếu Anh mấy hôm trước. Thương tiếc Anh và thêm phần buồn bã, hiểu ra rằng những sợi giây diều mà Anh là một đã dần dần đứt đoạn.

Không riêng Anh mà còn những người trẻ tuổi, sống trong khó khăn nhưng vẫn đầy tự hào và thêm vào sự ân cần, nhã nhặn.  Còn những chị làm trong khách sạn, khiêm nhường không nhận mình nấu nồi bún bò được khen ngon, mà nói là do “mấy chị khác” làm việc tối hôm trước nấu. Còn một chị bán ve chai là khách hàng thường trực của quán cơm “hạt gạo từ tâm”, 5000 đồng mỗi bữa, khi được phỏng vấn trên TV về quán cơm, đã lưu loát cám ơn các em sinh viên giúp việc ở đó vì không những đã rất “ân cần” mà còn đầy “ân tình” với những người nghèo khó yếu kém.

Lần nầy về Huế sẽ ở Phú Mộng/Kim Long, nhưng sẽ mướn chiếc xe đạp về ăn tô bún bà Kéo ở chân cầu Gia Hội, rồi ra bờ sông ngồi uống một ly cà phê, nhìn về phiá bên kia, ngày xưa có căn nhà cũ, có hàng đèn đường là nơi mình ngồi dưới chân hằng đêm để học trong mùa thi, từ lúc quá nửa đêm khi xe cộ đã vắng tới khi sáng sớm đèn tắt. Đây là nơi tôi sống đủ vui sầu (Bùi Giáng).

Chắc rồi phải ngồi lại ăn chén xôi trắng với mấy con cá kho khô từ chiếc gánh vẫn còn ở bên lề đường Phan Bội Châu cũ, của cô gái ốm yếu mãnh mai nhưng vô cùng nhã nhặn hiền lành, nối nghiệp mẹ đã mất từ lâu ngồi bán mỗi ngày. Hy vọng sẽ gặp lại người bạn trẻ từ Garden Grove, đã ba đêm không ngủ khi về Huế thế mà sáng sớm cũng lật đật ra đây ăn tô cháo trắng với cá kho khô trước khi ra phi trường trở về Sài Gòn.  

**

Thôi thì cứ như thế đã, khi về lại rồi hãy tính chuyện tương lai. Ôi, những ngả đường là những ngả phân vân…(Bùi Bảo Trúc)

 

 

Tháng sáu, 2019

 Nguyễn Q.  

 

 

 

 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.