Hôm nay,  

Trại Tù Sơn La

21/05/201909:45:00(Xem: 7548)

  


Tặng kỵ binh Vũ Đình Lưu

Cuối cùng rồi cũng còn một thời để nhớ.


Sơn La nước độc giòng trong vắt

Trót hẹn cùng nhau một quãng đời

Thăm thẳm chín tầng sâu địa ngục

Chín tầng mòn mỏi cuộc rong chơi


Mênh mông chướng khí mờ Sơn La

Cái đói làm quên nổi nhớ nhà

Trĩu nặng trần ai thân lính thú

Mồ hoang …hoang lạnh dãy đồi xa


Nơi đây điểm hẹn bờ sinh tử

Dãy trại ven đồi vắng …vắng thêm

Nước độc rừng thiêng đêm chướng khí

Huyệt sâu xí xóa kiếp ưu phiền


Tinh sương ..cả trại tù lưu xứ

Chặt nứa trên ngàn khoán chỉ tiêu

Công điểm trọn ngày đôi củ sắn

Máu tuôn đá sắc mỏng tai mèo


Sơn La cũng có đoàn sơn nữ

Thắm đậm tình người nghĩa quới nhân

Lên núi chặt măng triền bát ngát

Cho anh từng ống nứa cơm lam


Chao ôi ! Vị nếp sao mà dẻo

Ngọt lịm bờ môi thắm nghĩa đời

Ví nếu hôm nào no một bữa

Cũng còn nhớ mãi trọn đời thôi


Chao ôi ! Bó nứa sao mà nặng ?

Chia sớt nhau từ những khúc quanh

Xuống núi cheo leo triền vực thẳm

Oằn vai phân nửa gánh ân tình


Những gái Mường kia giờ ở đâu ?

Gùi măng xuống núi trắng hoa đào

Sơn La đất chết tình sao đẹp

Mãn kiếp lưu đày cũng nhớ nhau


Hồ Thanh Nhã 


Nằm ở trung tâm thành phố Sơn La và cách biên giới Lào chừng 45 cây số , nhà tù Sơn La được người Pháp xây dựng năm 1908 để giam giữ những người làm cách mạng VN. Về sau khi phong trào Cộng sản nổi lên thì dùng để giam giữ những lãnh tụ Cộng sản như Trường Chinh , Lê Duẩn , Tô Hiệu …Sau năm 1975 thì chánh quyền Hà Nội dùng làm nơi giam giữ thành phần ngụy quyền , ngụy quân mà chánh quyền Hà Nội gọi là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân . Thành phần nầy được chuyển ra Bắc từ các trại cải tạo rải rác khắp nơi ở miền Nam , sau khi chánh quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm1975.

Nằm trên đồi Khau Cả , gần trung tâm thành phố Sơn La , nhà tù nầy là một trong những nhà tù khắc nghiệt nhất Việt Nam lúc bấy giờ .Chánh quyền Hà Nội dùng nơi nầy để trả thù những người chiến bại không có tấc sắt trong tay . Khí hậu khắc nghiệt với những đợt gió Lào của vùng Tây Bắc gây nên cái nóng như thiêu đốt vào mùa Hè và những đợt sương muối tạo ra cái lạnh thấu xương vào mùa Đông .Kết hợp vào đó là chế độ ăn uống thiếu thốn , kham khổ , quần áo ấm không có , thuốc men hạn chế  , đã giết lần mòn thể xác lẫn tinh thần các tù nhân cải tạo .Mùa Đông năm 1976 , khí hậu ở Sơn La cực kỳ lạnh buốt , mà trước đó một năm , toàn thể các trại tù ở miền Nam không cho thân nhân thăm nuôi tù nhân . Do đó khi bất ngờ bị chuyển trại ra Bắc , không có tù nhân nào có đủ áo quần ấm và thuốc men dự phòng , nên phần nhiều tù nhân lớn tuổi , có bịnh trước đã bỏ mạng ở trại tù Sơn La nầy . Khi có người chết , các người tù còn sống bó xác người xấu số vào các manh chiếu rách , khiên xác họ ra các ngọn đồi cạnh trại chôn cất , cho xong một kiếp tù đày . Không quan  tài , mộ bia , nhang đèn gì cả Thật là ngậm ngùi , tủi thân cho một người tù bên thua cuộc .Vài chục năm sau , có người tù cũ trở về đất Bắc –Sơn La –dắt theo đứa con trai của người bạn tù xấu số năm xưa . Họ trở lại vùng đất ngục tù năm xưa để tìm mộ và hốt cốt người tù xấu số . Xin mời thưởng thức bài thơ Tìm mộ . Bài thơ nầy đã được nhạc sĩ Hào Quốc ở Canada phổ nhạc , như sau:


Tìm mộ


Người tù trở về thăm đất Bắc

Đồi sắn mênh mông ngã bóng chiều

Con suối hình như giờ cạn lại

Mỏi mòn mạch nước cũng khô theo


Anh nằm giữa đỉnh đồi hoang vắng

Mát rượi tàng cây dưới bóng sao

Con suối vòng cung qua mấy trại

Nhảy tung bọt sóng tháng mưa rào


Sơn La nước độc ma rừng thiêng

Sương muối chiều hôm phủ khắp triền

Hơi thở tưởng chừng như đặc lại

Nặng nề buồng phổi héo vành tim


Anh đến Sơn La rồi ở lại

Bạn bè sau đó cũng về Nam

Chiều nay trở lại tìm anh đó

Chớp mắt qua rồi mấy chục năm


Cây sao cổ thụ giờ đâu mất

Còn chỉ mênh mông sắn phủ đồi

Cách ngã ba nầy trăm rưởi thước

Mồ hoang viễn xứ lạnh mưa rơi


Gốc cây mục nát lên tầng nấm

Càng quạnh hiu thêm lũ mối càng

Cả khúc cây rừng còn gậm nát

Huống hồ xương trắng gió mưa chan


Năm xưa bẻ tạm ba que nhỏ

Làm nén hương lòng tiễn bạn đi

Gạo muối cũng không lòng thấy trống

Tủi thân manh chiếu rách đôi lề


Tôi dắt con anh trở lại đây

Mênh mông nghĩa tận khói hương dầy

Về Nam hương hoả mồ yên tịnh

Chắc cũng còn hơn thổ trạch nầy


 Hồ Thanh Nhã




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.