Hôm nay,  

Về Mái Nhà Xưa

06/06/201700:00:00(Xem: 7711)

Xuyên qua cửa sổ của căn nhà số 1 của trại tỵ nạn Camp Pendleton, tôi thấy dáng người đàn ông cao to, đội mũ xụp xệ, cách đi cà thọt của giã, dù có ở xa cách mấy tôi cũng biết ngay đó là Sáu Tận. Mừng quá tôi kêu tên giã thật lớn, thằng em tôi đang nằm thiêm thiếp giấc ngủ trưa, tiếng kêu của tôi đánh thức nó dậy, tôi giục nó theo tôi chạy ra ngoài đi tìm giã, gặp nhau anh em vui mừng, giã lẩm bẩm trong tuyệt vọng tụi này mới xuống máy bay, đang tìm chỗ ngủ, ông có chỗ không, cho tụi này ở chung được không?

Được chớ, sao lại không. Thế bà xả đâu? Tôi hỏi.

Ở bên kia kìa, Sáu Tận trả lời gọn ghẻ rồi giục tụi này đi tìm vợ và hai đứa con của giã.

Vợ chồng Sáu Tận làm việc cho một hãng Mỹ, rời Saigon bằng máy bay qua Subic Bay Philippines, hai ông bà mang theo hai thằng con trai, thằng lớn 5 tuổi, thằng nhỏ thì mới sanh mấy tháng. Chúng tôi phụ mang đồ đạt của anh về phòng của chúng tôi. Tụi này xúm nhau đẩy mấy chiếc giường sắt kề nhau cho vợ con anh. Chiều lại dẫn nhau ra lấy cơm, ngồi ăn chung với nhau kể chuyện đi tỵ nạn. Bữa cơm không rượu không trà trong trại tỵ nạn thế mà thật vui.

Tôi và Sáu Tận quen nhau lâu rồi, nhà của anh ở gần nơi tôi đi làm. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau trò chuyện đôi phút, giờ thì tôi và giã cùng chung cảnh ngộ nên trở thành thân mật hơn.

Sau hai tuần lể trong trại tỵ nạn, tôi được tiểu bang Washington mướn, phụ trách tuyển mộ năm trăm người tỵ nạn đem lên Tiểu bang Washington định cư, tôi lập danh sách đem gia đình anh lên với tôi. Đến Washington State, chúng tôi định cư cùng một thành phố, tôi tuyển anh vào làm cán sự xã hội cho Bộ Xã Hội của Tiểu Bang Washington, đặc anh ngồi ở văn phòng Xã Hội địa phương để anh trực tiếp giúp đỡ người tỵ nạn. Anh làm việc rất tận tụy, rất hăng say khiến mọi người cảm mến.

Những ngày đầu tiên trên đất Mỹ ai cũng lận đận, cái may mắn là anh em có việc làm, lương tiền lúc ban đầu không có bao nhiêu, chỉ đủ trả tiền mướn nhà, ăn ở tiết kiệm cũng sống vui vẻ. Lần hồi tới phiên mấy bà xã đi làm nên cuộc sống có phần dư giả, hằng tuần rủ nhau chở vợ con đi lên Seattle mua sấm và điểm tâm, hoặc rủ nhau đi câu cá chơi suốt cả ngày ngoài biển, cuộc sống hai gia đình trở nên thân thiết hơn.

Mùa Hè đầu tiên trên đất Mỹ khởi sắc, thành phố loan tin đêm nay sẽ bắn pháo bông mừng lễ Độc Lập, là cái lễ đầu tiên của chúng tôi trên đất Mỹ nên cũng rất háo hức. Từ trưa, vợ tôi đã nấu cho một thùng phở gà, rủ hết mấy bạn đem con cái đến nhà, ăn một chầu no nê chờ cho trời tối đi xem pháo bông. Mọi người chăm chăm vào cái truyền hình màu hiệu Sear 11 inches xem thiên hạ mừng Độc Lập bên miền Đông Đại Tây Dương, cách miền Tây Thái Bình Dương bên này đến ba tiếng đồng hồ. Bên kia trời tối thì bên này trời vẫn còn sáng trưng. Sau cái màn pháo bông Time Square bên New York, chúng tôi kéo nhau đi bộ xuống hồ Capitol, từ trên dốc nhìn xuống, thấy thiên hạ đã tụ họp đông đúc, họ mang mền chiếu ghế đẩu chầu chực từ trưa, bãi cỏ chung quanh hồ đầy người, đường xá cấm xe lưu thông, mọi người thông thả rảo bước đi tìm chỗ ngồi, bầu không khí lễ hội rất náo nhiệt khiến cho chúng tôi một đám tỵ nạn đi bộ từ nhà phải tăng tốc xuống bờ hồ tìm chỗ... đứng xem.

Thành phố Olympia tuy là Thủ Phủ của Tiểu Bang nhưng thành phố này rất nhỏ, bạn bè vài chục mạng từ nhiều nơi khắp nẻo đường bên Việt Nam nay bỗng dưng ở gần nhau, dù có xa lạ cách mấy thì nay trong hoàn cảnh tỵ nạn thì cũng thấy thân thiện trong buổi ban đầu. Hằng tuần các gia đình xúm lại nhau nấu nướng ăn uống hả hê. Đám con nít có dịp gặp nhau tha hồ vui chơi. Ở gần nhau lâu ngày nên biết nhau nhiều hơn, cuộc sống mới phức tạp hơn, rồi ảnh hưởng đến tình cảm bạn bè. Có ở gần nhau mới biết tánh tình của vợ chồng Sáu Tận. Vợ chồng anh là người hay so đo tính toán hơn thiệt, có lần anh nói với tôi rằng, cứ mỗi cuối tuần anh đem vợ con đến nhà một người bạn ăn chơi hai ngày, thì mỗi tháng giã tiết kiệm được tám ngày tiền chợ. Nghĩ lại anh nói rất đúng là vì đã lâu rồi không có cuối tuần nào anh ta ở nhà. Cuối tuần nào anh cũng đem vợ con đến nhà bạn, hết nhà này đến nhà khác ăn ở suốt hai ngày cuối tuần.

Thời gian đầu mới đến Mỹ, trong lúc mọi người đi làm đầu tắt mặt tối thì Sáu Tận là một trong ba người may mắn trúng giấy số triệu đô. Bạn bè thì mừng cho anh ta nhưng khi kinh tế phát triển, tánh tình của con người cũng đổi thay, tình cảm bạn bè vì vậy mà trở nên phức tạp hơn. Một hôm cuối tuần, Sáu Tận và vợ con đến nhà tôi như thường lệ, chơi từ sáng đến tối, sau mấy trận foot ball say mê, không biết cái gì đã xui khiến mà bà vợ Sáu Tận giận dữ tuyên bố một câu xanh rờn. Bà nói: Mấy người ở đây cà chớn quá mức, chơi không vô, họ nghe tôi trúng số người nào gặp tôi ở đâu, trong tiệm cũng như ngoài phố họ châm châm đôi mắt nhìn từ đầu đến ngón chân, xoi bói để coi tôi giấu hột xoàn chỗ nào. Từ cái đêm đó, gia đình Sáu Tận biệt tăm luôn. Không những không đến nhà tôi mà vợ chồng Sáu Tận cũng không đến với bất cứ bạn bè nào trong thành phố này nữa. Xa nhau lâu bạn bè ai cũng thắc mắc, đến nhà anh tìm thì không gặp, điện thoại anh không trả lời, thời gian cuồn cuộn trôi qua mang mọi người đi xa thật xa.

Trái đất quay nhanh, một buổi sáng trời nắng đẹp, ngồi bên cửa sổ nhìn ra ngoài thấy lớp sương mỏng ống ánh kim cương thật đẹp, tôi bước ra sân trước xem bụi Thủy Tiên vừa mới nở thật đẹp, bất chợt tôi thấy một anh thanh niên người Á Châu, hai tay cầm hai cái ống túp đi lảng vảng đầu ngõ, anh ta thấy tôi, anh vừa đi đến gần tôi miệng vừa chào, phản xạ tự nhiên tôi chào lại, anh ta bước đến gần tôi hơn và hỏi bằng tiếng Mỹ: Ông nhớ tôi không? Tôi trả lời không nhớ. Anh nói tiếp: Tôi là Tâm, con của Sáu Tận.

Tôi quá đổi ngạc nhiên, thì ra cái thằng bé Tâm ngày xưa còn mang tả trong trại tỵ nạn, mắt to kháo khỉnh, nó đến nhà tôi chạy tung tăng bây giờ cao lơn thế. Nhìn tướng mạo của nó mới biết chúng tôi đã xa nhau mấy chục năm. Thằng Tâm bây giờ đã tốt nghiệp Đại Học, đã cưới vợ, đã có nhà riêng, đang làm cho một hãng Locator trong thành phố này. Thằng anh của nó, lúc gặp trong trại tỵ nạn nó mới có năm tuổi, nay nó đã lập gia đình, đã có ba đứa con, đã vào quân ngũ lâu rồi, và hiện giờ đang tham gia chiến trường Iraq. Nghe những gì nó nói khiến tôi tê tái cả người, tưởng như tôi ở một hành tinh nào cách xa cái trái đất lâu ngày nay mới trở về, chỉ có vậy mới biết chúng tôi xa nhau đến mức nào.

Rồi thời gian cứ bay qua nhanh, một hôm Sáu Tận điện thoại thông báo cho tôi biết vợ anh mất. Anh cũng nói thêm là anh chỉ cho tôi biết vậy thôi chứ đừng đến nhà của anh. Bàng hoàng tôi hỏi thêm anh có cần giúp đỡ gì trong việc ma chay cho chị không, anh nói không cần. Anh và hai đứa con tự lo lấy được rồi. Sáu Tận cũng tỏ ý không muốn người nào đến phúng điếu. Mặc dầu vậy, vợ chồng tôi cũng mạo hiểm đến. Đám tang của vợ anh rất lạnh lùng, cái đám tang không có quan tài, không có cha làm phép mà cũng không có thầy tụng kinh, không lễ mà cũng không nhang đèn, chỉ có một bó hoa của nhà quàn kính biếu. Nhìn ba cha con của anh đẩy chiếc xe của nhà thương lên ngọn đồi hỏa táng, từ xa tôi nhìn theo lùm khói đen phụt bay lên nó báo hiệu năm mươi năm tình bạn của chúng tôi giờ chỉ còn lại cái chân không. Cảm giác nào buồn hơn trong tôi lúc này.

Nhà tôi cách nhà của Sáu Tận chỉ một cây số đường chim bay, biết anh cô đơn nên tụi này đến nhà thăm. Mấy lần đến nhà anh, thấy đám cỏ trước nhà được cắt xén gọn sạch, mấy bụi rhododendron sân trước đang trổ hoa tươi thắm, nhưng bấm chuông thì không thấy có người mở cửa, điện thoại không người trả lời, nhắn tin trong máy là biện pháp cuối cùng cũng không hiệu quả. Vì sao? Vì sao mà Sáu Tận vô cảm đến thế này?.

Bàng hoàng tôi điện thoại cho thằng Tâm, hỏi ba của nó đâu? Nó cho biết từ ngày má chết, ba buồn, ba xuống Los Angeles ở đó có nắng ấm, có bạn bè nhiều ba nói ba vui lắm. Nó cho tôi số điện thoại của ba nó và khuyến khích tôi gọi nói chuyện cho ba nó vui.

Trong cú điện thoại đầu tiên tôi gọi đến anh, anh cho biết anh đã nghỉ hưu, không còn dậy sớm đi làm. Anh kể những chuyện vui ở Quận Cam. Anh share một căn phòng ở riêng, mỗi chiều bạn bè đến thăm. Cuối tuần họ chở anh về nhà, hoặc chở đi chơi. Anh thích cái món ăn "Cơm Chỉ" và cà phê nhà nghèo. Đặc biệt là anh cho biết anh đã có người tình mới. Bà này rất nuông chiều anh. Sở thích của bà này là đi chụp hình. Anh mua cho chiếc máy hình hiệu Canon 5D, với đầy đủ ống kính và phụ tùng nhiếp ảnh hết mấy ngàn đô. Ngày cuối tuần, hai ông bà cùng tham gia những buổi chụp hình dã ngoại thật vui. Anh cũng cho biết đã có lần anh đưa bà về Việt Nam thăm người thân. Hai ông bà đi Sa-Pa săn hình và về miền sông nước Hậu giang thăm lại quê cũ. Bao nhiều cái vui dồn dập từ ngày vợ anh chết.

Những ngày kế tiếp, tôi điện thoại xuống Cali thăm. Anh kể chuyện anh gởi tiền về Việt Nam để xây lại căn nhà của ba má anh trên đường Lý Tự Trọng Saigon. Ba má đã quy tiên lâu rồi, giờ còn người anh cả và một đứa em gái, cả hai không vợ không chồng vẫn sống trong căn nhà này. Anh ước mơ được trở về sống với anh em khi nào nhà cất xong. Những gì anh nói cho tôi thấy Sáu Tận bây giờ khác hẳn cái anh Sáu Tận ngày xưa. Sáu Tận ngày nay độc thân, con cái đã khôn lớn, tiền hưu liễm anh sống dư giả, tôi chỉ mong cuộc sống mới đem đến cho anh ta cái hạnh phúc lúc tuổi già.

Những ngày này tôi thường đi đi về về giữa Mỹ, Việt Nam và các nước khác. Một hôm trước khi qua Úc, tôi ghé lại nhà của anh ở Saigon để coi căn nhà của ảnh cất lại như thế nào. Tôi gặp người anh của Sáu Tận, anh này cho xem căn nhà và nhờ tôi nói lại với Sáu Tận là nhà cất chưa xong vì thiếu tiền, kêu nó gởi thêm tiền về gắp. Ngưới anh cũng dặn dò rằng “Tôi rất mong nó về đây ở với tôi”. Sau hai tháng bên Úc, tôi trở lại Saigon và trước khi về Mỹ, tôi ghé lại nhà để coi người anh có dặn dò gì cho Sáu Tận không. Thật bất ngờ, người anh nói: Nhà thì sắp xong, nhưng anh nói kêu nó đừng về. Nghe nói nó bịnh lắm. Trong lúc người Việt Nam ở dây đi ra nước ngoài trị bịnh, nó về đây làm gì. Nó về đây là nó chết liền. “Anh kêu nó đùng về”. Bị sóc bởi câu nói, tôi chụp xong tấm hình rồi đi ngay. Cú sốc kéo dài trong đầu ốc, về đến Mỹ tôi không có can đảm để nói cho Sáu Tận những gì tôi nghe và thấy tại Saigon.


Trời đất bốn mùa thay đổi liên miên, người già thì càng già, bạn bè càng xa vắng, bạn cũ bây giờ đếm không hết mấy đầu ngón tay, mọi người trong phố này cũng đã quên lãng Sáu Tận. Một buổi chiều tĩnh mịch, tôi đang ở trong phòng lướt web, bỗng dưng nghe tiếng hét thật lớn của vợ tôi, tôi bật dậy chạy lẹ ra thấy vợ tôi ôm mặt khốc, tôi hoảng hốt ngó ra cửa thì thấy Sáu Tận đứng tần ngần ngoài cửa, anh mặc quần Jean với jacket màu đậm, anh đội cái mủ trắng lụp xụp, mặt mày tiều tụy, đôi mắt của anh ràng rụa nước mắt. Anh kêu tên tôi hai tiếng thật to, tôi vội mời anh vào nhà. Xa nhau quá lâu trong đầu của tôi vẫn còn hình dáng của một Sáu Tận to con đẹp trai của ba mươi mấy năm trước, giờ thì anh vẫn no tròn nhưng bịnh hoạn nặng nề, chứng bịnh suy thận làm cho nước da của anh trở thành màu đen đậm như người Phi Châu. Anh bước vào nhà trong, ngã mình vào chiếc sofa, chưa kịp nói lời nào thì anh ta bật khóc. Anh khóc như một đứa trẻ làm cho vợ chồng tôi bối rối. Giọng nức nở, anh kể chuyện lúc nãy vợ tôi ra mở cửa, vợ tôi nhìn anh và hỏi "ông tìm ai" bằng tiếng Mỹ. Anh đã phải nói tên anh ba lần bằng tiếng Việt vợ tôi mới nhận ra anh. Thật là khủng khiếp.

Nhớ lại trong những lần điện thoại trước anh cho biết anh ở Cali rất vui, nhưng sao hôm nay anh đột ngột về đây và buồn thảm như thế này. Anh kể tiếp: Sau khi vợ chết anh quá cô đơn, quá buồn chán, đã có lần anh uống thuốc tự tử, bị thằng con phát hiện, nó kêu xe cứu thương chở vô nhà thương rửa ruột cứu anh sống lại. Anh cũng than trách bạn bè ở Los, lúc đầu mới đến bạn bè hăng say, tới thăm đông đảo, dần dần không còn ai đến khiến anh rất cô đơn, cộng thêm cái chứng bịnh thận suy phát ra, không có người chăm sóc, anh phải vào viện dưỡng lảo, ở đó càng cô đơn nên anh muốn trở lại thành phố này, ở đây có hai thằng con, có mấy đứa cháu nội, gặp lại bạn bè cũ anh thấy vui hơn. Thế là hai thằng con bay xuống Cali, dọn hết đồ đạc của anh bỏ lên chiếc xe U-Haul chạy một mạch về đến Olympia.

Những ngày kế tiếp, Sáu Tận ngày nào cũng lái xe đến nhà tôi chơi, anh oán trách quá khứ nên giờ không còn bạn bè nào khác ngoại trừ vợ chồng tôi. Chúng tôi rất mến anh, con cháu của chúng tôi cũng rất vui với anh. Hằng ngày anh đến nhà ăn uống với mấy đứa cháu nhỏ nói tiếng Việt nửa nạc nửa mở anh rất thích. Có những ngày quá mệt mỏi, anh nằm trên sofa đến bửa ăn anh không đến ngồi bàn ăn cơm chung với chúng tôi, cháu Lauren 6 tuổi bưng đĩa cơm đến bên anh hai tay run run mời ông ăn cơm, anh đưa tay bưng đĩa cơm rồi anh vừa ăn vừa hẳm hiu bù ngùi khiến cho Lauren sợ ông bị cay ớt, nó chạy đi lấy chai nước mời ông uống nước. Trở về bàn, nó nói với vợ tôi Bà Ngoại bỏ ớt nhiều quá. Ăn xong, anh ngủ một giấc trưa phè phởn cho đến tối, ăn xong buổi tối anh lái xe về nhà ngủ. Thắm thoát Thu tàn mùa Đông đến nhanh, tuyết phủ ngập đường, cộng thêm chứng bịnh của anh phát triển mạnh, mỗi tuần anh phải đi lọc máu ba ngày, không còn lái xe được nữa nên anh phải nhờ hai thằng con.

Thằng con lớn thì cả hai vợ chồng ghét cay ghét đắng, hai ông bà bạc đãi từ lúc nó còn bé. Nó học xong Trung học, đi đăng lính Bộ Binh. Nó ra đơn vị, và lần lượt thuyên chuyển đi nhiều nơi trong đất Mỹ, nhiều lần theo đơn vị qua Đức, Triều Tiên rồi Iraq. Nó cưới cô vợ gốc Mễ. Sanh con, một đứa rồi hai đứa rồi đứa thứ ba ra đời, lương lính không đủ sống, cha mẹ không giúp đỡ, vợ chồng cãi nhau rồi ly dị. Một lần giải ngũ tìm không có việc làm, không tiền nuôi dưõng con cái nên phải tái đăng, theo đơn vị qua Iraq đến ba lần.

Ngược lại thằng con thứ hai thì hai ông bà đối xử hoàn toàn khác hẳn. Hai ông bà thương nó vô cùng tận.Tất cả tiền bạc và tài sản anh giao cho nó hết. Thằng con này có cô vợ Mỹ da trắng, anh về đây ở chung với hai vợ chồng nó. Thằng con làm real-estate agent nên thường xuyên vắng nhà. Ở chung không được bao lâu thì anh ta bắt đầu than phiền ở nhà chỉ có anh và con dâu, sống trong một căn nhà nhưng mỗi người một góc, ăn uống khác khẩu vị và không bao giờ ăn chung một bàn, cộng thêm sự khác biệt tập quán nên không nói chuyện với nhau làm cho anh ta ngộp thở. Thấy vậy nên thằng con mua một căn nhà để anh ở riêng. Ở một mình không có người nấu ăn dọn dẹp, mướn người làm thì anh ta sợ tốn tiền, tôi khuyên anh đem ba đứa cháu nội đến giúp, nhưng anh rất ngần ngại là vì anh không thân thiện với chúng nó, lâu ngày cả hai bên đều ngượng ngùng.

Mặc dầu bịnh hoạn nhưng cái ăn của anh vẫn còn rất mạnh và rất khó tính, anh chỉ muốn ăn những món mặn mà cay đắng vợ nấu thôi, thấy vậy nên chúng tôi mua cho anh bịch gạo, cái nồi cơm điện để anh tự nấu cơm. Mua thức ăn hoặc nấu sẵn đem đến và mua luôn cái lò microwave để anh hâm nóng thức ăn. Giữa lúc bịnh hoạn cô đơn, Sáu Tận nhận được điện thoại của ông anh bên Saigon cho biết căn nhà đã xây xong. Nhà mới ba tầng, có phòng riêng cho mỗi người khiến anh nôn nóng muốn về đó ở, tinh thần lên cao, anh thường mơ tưởng đến cái lúc anh lên máy bay trở về mái nhà xưa của anh. Ở đó có người anh hủ hỉ, có người em lo cơm nước sống với cảnh cũ người xưa anh rất sung sướng.

Tưởng đâu cuộc sống của anh được tạm yên, nào ngờ trở ngại thêm chồng chất, một hôm, ngủ dậy đói bụng đi tìm thức ăn, thấy tủ lạnh trống rỗng, anh kêu điện thoại cho thằng Tâm, kêu nó đến tiệm chạp phô mua cho anh bịch gạo để nấu cơm ăn, thằng con nói không được vì nó đang bận. Tức mình anh kêu nó chiều về ghé qua tiệm Teriyaki mua cho hộp cơm, thằng con nói không thể mua được vì tiệm nằm trái đường đi của nó, nó không mua, từ đó, anh ta mất tin tưởng với nó. Buộc lòng anh phải trở lại với thằng con lớn.

Thật là may mắn, cái hôm anh gọi điện thoại thì nó ở Iraq mới về nghỉ phép, nghe ba than đói, nó mau mau chạy đi mua cho anh hộp cơm. Thằng con cũng thuyết phục anh dọn qua nhà của vợ mới của nó. Cô này người Campuchea miệt Châu Đốc, biết nói ít tiếng Việt. Cô này cảm thông, cam đoan chăm sóc cho cha chồng. Một tháng nghỉ phép thằng con luôn luôn bên cạnh lo châm sóc anh rất tử tế. Mỗi tuần ba lần nó đưa anh đi lọc máu, tối về có cơm Việt Nam ăn vừa ý Sáu Tận lên hương.

Thấm thoát lai thêm một ngày lễ Độc Lập đến, mấy nhỏ rủ chúng tôi đi làng người da đỏ mua pháo bông về đốt mừng Lễ Độc Lập thứ ba mươi lăm. Trước khi đi, Vợ tôi muốn vô nhà chở Sáu Tận cùng đi chơi cho vui. Tôi điện thoại cho anh, không ngờ anh cho biết hôm nay là ngày anh đi Việt Nam để ở luôn. Chuyến bay sẽ cất cánh trong ba tiếng đồng hồ. Giờ chuẩn bị lên phi trường. Anh cũng cho biết vợ chồng thằng con đã bay về Việt Nam sắp đặt xong xuôi bên Việt Nam. Có sẵn y tá đến nhà chăm sóc cho anh. Có Bác Sĩ chăm lo lọc máu mỗi tuần ba lần. Thằng con trai và vợ nó đã về gắn máy lạnh, đã mua cái truyền hình lớn loại mới, mua Computer bắt Internet băng rộng v.v… Thằng con trai và vợ nó tháp tùng đưa anh về Việt Nam. Anh đặc hết niềm vui trong chuyến đi trở về sống dưới mái nhà xưa sống một cách huy hoàng. Sáu Tận dặn dò chúng tôi khi nào về Việt Nam ghé lại thăm anh. Thằng con trai lên máy hứa khi nào về đến Việt Nam, nó sẽ điện thoại báo cho tôi biết.

Vui cho Sáu Tận có cơ hội thực hiện ước mơ, nhưng buồn cho cái tình bạn hơn năm mươi năm, cuộc sống đã ổn định yên vui lâu rồi, bên này có con có cháu nên đi xa chốn này là một cái việc rất khó. Ba mươi lăm năm quê hương đầu đời cũng đã đổi khác rồi, bây giờ mình trở về tuy sống dưới mái nhà xưa nhưng phải sống với con người và một xã hội mới bên Việt Nam, một cuộc sống rất khác, nhứt là lúc mình bịnh hoạn, vì thế sự ra đi của Sáu Tận không tránh khỏi bùi ngùi.

Hai mươi bốn giờ sau, Saigon điện thoại qua với giọng nói rung rung, tưởng đâu lạ chuyện vui, nào ngờ, thằng con kể lại: Sau mười tám tiếng đồng hồ lơ lững trên trời, và cho đến khi chuyến bay EVA đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt an toàn, Sáu Tận rất khoẻ. Cánh cửa máy bay mở ra, hành khách trong máy bay đứng dậy lấy xách tay, Sáu Tận vui mừng đứng phát dậy mắt láo liên nhìn ra cửa sổ máy bay biết rằng mình đã về đến quê nhà, anh bẻ mình uốn qua uốn lại để giảm stress. Nhìn thằng con và con dâu mở một nụ cười rất vui tươi. Theo hành khách anh ra khỏi máy bay, bước chân cà thọt anh đi xếp hàng đứng trình giấy Hải Quan. Xong phần thủ tục đầu tiên anh mạnh bạo bước xuống tầng dưới đi lãnh hành lý.

Bên ngoài cổng sân bay hằng ngàn người đứng trước cửa chờ đón thân nhân, trong lòng anh nhộn nhịp, vừa đi vừa đảo mắt tìm người nhà, ông anh và đứa em gái dơ tay chào đón gặp nhau vui mừng. Một chiếc xe mười hai chỗ đổ sát lề, Sáu Tận bước lên xe nhìn mọi người tươi cười, xe lăn bánh đưa mọi người về Saigon. Trên đường đi Sáu Tận ngồi ghế trước mắt láo liên vui vẻ nhìn dòng xe đông nghẹt ngược xuôi dưới ánh nắng lửa hồng giữa trưa của Saigon, Sáu Tận cười nói liên miên.

Xe ngừng lại trước nhà, Sáu Tận vui vẻ bước xuống xe. Anh ngước mặt nhìn căn nhà lầu ba tầng mới cất xong anh tỏ vẻ hài lòng. Cánh cửa sắt được mở ra, Sáu Tận tung tăng như đứa trẻ được mẹ cho kẹo, anh hí hửng bước vô nhà khiến mọi người cảm thấy phấn khởi. Hàng xóm đến hoan nghênh và chúc mừng.

Sáu Tận sung sướng bước lên cầu thang, lên đến phòng khách trên lầu hai, đặt mình vào chiếc ghế Salon. Ông anh hối hả rót nước mời, Sáu Tận vội thọc tay vô túi quần lấy ra xấp đô-la đặt lên bàn rồi… gục đầu chết liền tại chỗ.

Nghĩ lại thật là bàng hoàng, khi người còn sống ai cũng có một ước mơ, thực hiện được ước mơ hay không cũng chỉ là một ước mơ. Trên đời có bao nhiều người giàu và bao nhiêu người nghèo, đến khi chết người nào cũng như nhau, cát bụi trở về cát bụi. Sáu Tận ngày nay đã toại nguyện. Anh đã về đến quê hương đầu đời, anh đã về được Mái Nhà Xưa, anh đã gặp lại người thân... rồi ra đi trong giây phút vui sướng nhất của đời anh. Vẫn biết rằng người có sanh và có tử, nhưng vì sao mà anh ra đi vội vàng khiến cho đời người quá phủ phàng. Giờ đây nghỉ lại mà buồn cho kiếp người.

Đường Bình

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.