Hôm nay,  

Đêm Ba Răng

16/03/201700:02:00(Xem: 10369)

(Nhân Lễ Kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Ra Đi được tổ chức tại Hội quán PGHH vào sáng Chủ Nhật 19-3-2017)

Ngày 25 tháng 2 Al  của 70 năm về trước, trên đường đi tham dự buổi họp với Việt Minh, Đức Huỳnh Giáo Chủ có than thở : “Hôm nay là ngày đau khổ nhất ! Ôi ! sao mà đau khổ quá vầy!”.

Chiều Ba Răng xưa ấy, trời bỗng thôi nắng, mây đen vần vũ kéo nhanh, đen kín cả một bầu trời, im lặng, không một tiếng gió, mọi sinh hoạt như ngừng hẳn.Thật là thê lương.

Hai bờ sông trong những năm tháng kháng chiến, lau sậy um tùm mọc tràn lan, khiến đêm hoang vắng  Ba Răng càng thêm âm u rùng rợn.


Đức Huỳnh Giáo Chủ ra lệnh cho đệ tử chèo thuyền. Ngài vào trong khoang thuyền theo sau là bốn cận vệ quân.Thuyền chầm chậm rẽ nước đi từ ngọn Ba Răng đến chợ Phú thành và vòng tới Đốc Vàng Hạ rạch Láng Thượng nơi có hẹn với Bửu Vinh.


Không ai nói một lời, họ len lén nhìn Đức Huỳnh Giáo Chủ và nhận thấy nét trầm tư nghiêm nghị của Ngài mờ tỏ ẩn hiện qua ánh đèn dầu, đong đưa theo nhịp sóng vỗ, cùng với âm thanh xào xạc của lau sậy hai bên bờ sông giữa màn đêm u tịch. 

Bỗng chốc Đức Huỳnh Giáo Chủ lướt nhìn 4 người cận vệ quân của Ngài bằng ánh mắt từ bi và Ngài hỏi : “Có ai biết đường về căn cứ của mình không ?”. Ba người cận vệ  đồng thanh trả lời : “Thưa Thầy con không biết”. Chỉ có Ông Phan văn Tỷ trả lời : “Dạ thưa Thầy con  biết”. Ngài nói bằng giọng ôn tồn cương quyết  với Ông Phan văn Tỷ :  “Có gì khó, cứ nhắm hướng sao cày chạy riết thì về tới chớ gì”.

Thuyền dừng lại. Đức Giáo Chủ đi trước, theo sau là 4 cận vệ quân lên bờ vào nơi hội họp. Đức Huỳnh Giáo Chủ và Bửu Vinh ngồi đối diện nhau và bắt đầu câu chuyện.


Khoảng 10 phút sau, 8 tên bộ đội Việt Minh từ ngoài vào, chia cặp, kè sát 4 bảo vệ quân của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Ba người bị đâm chết ngay, chỉ còn Mười Tỷ nhờ giỏi võ nên thoát thân. Thấy có biến Ngài đã bình thản đứng dậy lẹ làng, thổi tắt ngọn đèn dầu. Văn phòng trở nên tối đen, không ai biết Ngài đi đâu. Tiếng súng nổ liên hồi liên hồi. Người chèo thuyền chạy về báo cho các tướng lãnh hay.


Và  cũng chính đêm ấy, sau khi được tin tại văn phòng thường trực Chi Đội 30 của các tướng lãnh Phật Giáo Hòa Hảo ở căn cứ Phú Thành, tiếng la hét gào thét , khóc ré, nghẹn ngào nức nở, tiếng tù và, tiếng trống mõ nổi dậy inh ỏi, rung chuyển cả một bầu trời, muôn vạn ánh đuốc bập bùng, hằng trăm hàng ngàn đoàn dân quân với: thương, đao, tầm vông vạc nhọn, súng ống  trong một đêm tối đen thê thương, họ đã sẵn sàng để kéo đi giải nguy, báo thù cho Đức Huỳnh Giáo Chủ ...


Bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập hí vang và người kỵ mã chạy vô rất nhanh, hét to : “ Có lệnh của Đức Giáo Chủ Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ đâu?”. Tất cả mọi người chen nhau vây quanh người kỵ mã, cúi đầu tiếp lệnh của Đức Tôn Sư:


Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ,

Tôi vừa  hội hiệp với Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát thì các ông đừng tin và đừng náo động, cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chổ,
sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lệnh.”

Ngày 16/4/1947, 9 giờ 15 đêm

Ký tên: HUỲNH PHÚ SỔ

Đây rõ ràng là bút tích của Đức Tôn Sư. Tất cả những quân dân, Tướng lãnh binh sĩ, những tín đồ của Ngài phải cúi đầu, tuân thủ mệnh lệnh của Ngài ... Nước mắt tuôn trào rơi trong oán hận, trong căm hờn.

Thế rồi  từ ngày 16 tháng 4 năm 1947 nhằm ngày 25 tháng 2 al nhuần năm Đinh hợi, Thầy tôi đã ra đi trong một đêm tối, trời sầu gầm thét, sấm sét lập lòe, gió căm hờn lên bão rít như tiễn bước Đức Tôn Sư. Và cũng từ ngày ấy  đất nước  tôi, súng vẫn nổ khắp trời quê hương mù mịt  khói đạn chiến tranh.

Bao nhiêu trai trẻ đã ra đi không hẹn ngày trở lại. Ý đạo dù có bàng bạc khắp làng quê thôn xóm, nhưng vẫn bị khỏa lấp bởi tiếng gầm thét của đạn bom.


Thế gian vốn nhiều đau khổ đêm đêm dưới những ngọn nến lung linh, hàng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vẫn nép mình trước bàn thông thiên cầu nguyện Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quê hương tôi, cho đất nước tôi sớm ngừng thôi: đạn bay, bom nổ. Ngừng, thôi: xiềng xích thống trị ngoại lai, mà những tín đồ nào yêu Đạo vẫn tưởng nhớ đến Đấng Tôn Sư đang rừng ngăn núi cách, ngàn nẻo mù sương ...  Đức Tôn Sư đã phải lặng lẽ ra đi để: “Ta chịu khổ khổ cho bá tánh”, để đổi  lấy duyên nghiệp  xương máu trả vay của chúng sanh nhiều đời kiếp, nhưng vì vô minh nên nhóm người, nhóm đảng vô thần đã tạo ra một đất nước ngã nghiêng suốt thế kỷ qua đi.

Bảy mươi năm trôi nhanh, Đức Tôn Sư vẫn biền biệt, bảy mươi năm qua, toàn thể tín đồ của Ngài đêm đêm vẫn bùi ngùi trông ngóng, để  ước nguyện đến hội mây rồng, đời mạt hạ sẽ chấm dứt, Hội Long Hoa khai mở để dọn đường cho thờiThượng Ngươn Thánh Đức, an lạc, thái bình. Ngày đó là ngày khải hoàn để đón rước Đức Tôn sư. Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng đã từng mong mõi:


Lập rồi cái hội Long Hoa,
Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu?

(Sám Giảng Thi Văn, quyển 3)


Và như Ngài đã thấu triệt huyền cơ thời gian Thầy xa vắng tín đồ nên Ngài nói:


Thấy thiên cơ khó nỗi yên ngồi,
Thương lê thứ tới hồi khổ não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
(GMTK,tr 139)
 
Cũng như để cho thế gian đầy trầm luân khổ ải này, giờ thì chưa phân biệt ai chánh, ai tà, biết rằng :

Vì yêu dân ta kể ngọn ngành,
Khuyên lê thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hông trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần.
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc.
Chừng lập hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.(GMTK,tr 135)


Đức Giáo Chủ cũng đã viết trong quyển 2 “Kệ Dân của người khùng”:


Xưa Tây Bá thất niên Dũ lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.


Dù Tây Bá Hầu Cơ Xương xưa vẫn biết ra đi phải chịu tai nàn, bảy năm dũ lý nhưng Cơ Xương  vẫn đành cam chịu còn phận Ngài ?


Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc Tòa,

Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng.(GMTK,tr 135)

Với lòng ngưỡng mộ thiết tha đạo giáo, tôi lại càng suy nghĩ về cảnh Niết Bàn mà Đức Giáo Chủ đã cho rằng nơi đó mới chính là cứu cánh của mọi người rèn tâm tu niệm.

Trong một đoạn khác của Sấm Giảng quyển  4 “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Giáo Chủ cũng đã cho biết :

Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,
Miễn lê thứ được câu hạnh phúc .
Cờ thế giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.(GMTK,tr 132)


Vì thương chúng sanh muôn loài nên Thầy tôi đành rời xa cảnh thường trụ Niết Bàn để  cứu vớt chúng sanh nhiều đau khổ. Niết Bàn phải là cái đích tối cao, để con người qui y, là nơi an lạc cho từng cá nhân, nơi hiệp đồng trụ xứ cho toàn thể chúng sanh. Nên Đức Thầy nói có Niết Bàn. Như vậy Niết Bàn không phải là nghĩa tiêu cực, hư vô mà là nghĩa tích cực, chân thật, tức là đối với vô thường là thường trụ, đối với khổ là lạc, đối với ngã là chân ngã, đối với bất tịnh là thanh tịnh, đối với hư vọng là chân thật, đối với sai biệt là bình đẳng.

Tình thương của Đức Tôn Sư lớn rộng mênh mông hơn cả vũ trụ, lòng người sao dị biệt chia rẻ không biết yêu thương nên tiếp tục tạo ra bao cảnh thảm khóc tang thương cho nhau, tiếp diễn mãi và đã làm cho bao con tim thiết tha yêu đạo kính Thầy phải tái tê xót xa thương cảm.

Hôm nay đêm 25 tháng 2 âm lịch của 70 mùa xuân ảm đạm đi qua, là 70 lần kỷ niêm để luôn nhớ trời Ba Răng xưa ủ dột mây mù, hoa lá cũng phai úa rủ sầu.Vì đêm ấy và ngàn đêm sau, người Phật Giáo Hòa Hảo, hàng triệu tín đồ của Ngài, đang gục đầu trầm tư...  vững tin chờ đợi ngày trở về của Ngài, dù có nhiều cam go ngăn trở và  trên nẻo đạo đường đời chúng con vẫn luôn nhớ lời căn dặn của ĐứcTôn Sư:

Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.


Thầy ơi ! Chúng sanh đang mong đợi Ngài, chúng  con đang thiết tha mong đợi ngày trở về của Thầy trong nước mắt.


Lê Yến Dung

Ngày 25/2 Al năm Đinh Dậu 2017. 

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ đi Khuyến Nông tại các tình miền Tây giúp đồng bào miền Bắc năm 1945

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.