Hôm nay,  

Bịnh sợ dưới chế độ CS

07/10/201608:19:00(Xem: 7078)

Bịnh sợ dưới chế độ CS

Trần Trung Đạo


Sợ là một ý thức hiển nhiên gắn liền với số phận con người. Sợ sống, sợ già, sợ đau, sợ chết, nói chung, sợ tất cả những hiện tượng mà con người luôn phải đối đầu nhưng chưa giải thích được bản chất của chúng.

Tuy nhiên, dưới chế độ CS sợ là một căn bịnh xã hội và bịnh phát cơn khi có một nguồn kích động xảy ra. Giống như ánh sáng tuy không phải là lý do của bịnh đau đầu kinh niên nhưng mỗi khi bịnh nhân bước vào căn phòng quá sáng hay đèn bật sáng bất ngờ, cơn nhức đầu lại bừng bừng nổi dậy.

Trong nước, từ một em bé tiểu học cho đến một cán bộ đảng cao cấp có lập trường chính trị hồng như ráng trời chiều đều có ít nhiều vi khuẩn sợ trong người. Từ những bài tập viết văn cho đến các tiểu luận, biên khảo vẫn nặng phần trích dẫn. Thậm chí trong một bài viết vỏn vẹn hai trang đã hơn một nửa là trích dẫn những câu kinh điển do các "lãnh tụ anh minh" CS nào đó để lại. Trích dẫn không phải để chứng minh cho cái đúng hay che giấu cái dốt của mình mà quan trọng hơn là để an tâm.

Trong buổi họp, nếu ai lên tiếng phàn nàn, phản đối trước một đề nghị nào đó, chủ tọa chỉ cần dọa "một lần đề nghị đó cũng chính là ước vọng của lãnh tụ anh minh", tức khắc sự phàn nàn dù không ai khuyên cũng xì nhanh hơn bong bóng. Thói quen dựa hơi những người được trao cho quyền "bất khả xâm phạm" trong xã hội, dù còn sống hay đã chết, cũng đều từ sự sợ hãi mà ra. Thói quen đó đã theo thời gian phát triển thành một cố tật trong sinh hoạt văn hóa xã hội tại Việt Nam.

Ngoài nịnh bợ, bịnh sợ hãi còn gây ra biến chứng trầm trọng khác là đổ thừa. Trong các bài tự phê bình chính thức hay không chính thức, những lý do khách quan bao giờ cũng nhiều hơn chủ quan. Chậm tiến là vì, nghèo đói là vì, tham nhũng là vì, tuyệt nhiên không có cái vì nào trong số đó là lỗi của mình.

Trong lúc sự sợ hãi là một phần của số phận con người như vừa trình bày, nó chỉ trở nên tai họa tập thể khi mức sợ hãi phát triển thành một bịnh trạng của cả xã hội, tồn tại như một phần của đời sống văn hóa, gây nên những phản động lực cản trở sự phát triển tinh thần của con người và ngăn chận sự thăng tiến của xã hội.

Trong lịch sử của nhân loại thời cận đại, xã hội Liên Xô dưới thời Stalin và Bắc Hàn trong thời Kim Nhật Thành, có thể được xem là những nơi căn bệnh sợ hãi đã bị xã hội hóa đến mức độ gần như toàn diện.
.
Dưới chế độ toàn trị của Stalin, con người thấy chung quanh họ không có ai là bạn mà chỉ toàn là kẻ thù, kể cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, bè bạn. Đảng có kẻ thù của đảng, nhà nước có kẻ thù của nhà nước, nhân dân có kẻ thù của nhân dân.  Chủ trương trồng cấy vi khuẩn sợ hãi vào toàn bộ xã hội Liên Xô của Stalin thành công đến mức có lần y cho rằng một ngày các cơ quan an ninh để kiểm soát dân chúng có thể không còn cần thiết. Lý do Stalin tự tin như thế bởi vì sợ hãi đã có thể tự quản được trong chính mỗi con người.

Bệnh trạng sợ hãi tại Bắc Hàn so với Liên Xô còn trầm trọng hơn vì nhiều nơi tại Bắc Hàn con người được thuần hóa đến mức không còn biết sợ là gì. Nhận thức của con người họ phụ thuộc hoàn toàn vào một trung tâm chỉ đạo ý thức được điều khiển từ bên ngoài.

Nhiều người dân Bắc Hàn hoàn toàn mất ý niệm không gian và thời gian. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD đang được dùng trên thế giới và thay vào đó bằng lịch Juche lấy năm sinh của họ Kim làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là năm Juche 99.  

Nếu lý luận theo quan điểm kinh tế của Mác, khi mức độ xã hội hóa của nền kinh tế đạt đến mức toàn diện, chế độ kinh tế tất yếu sẽ biến thái, thì sự biến thái của các xã hội khống chế bằng nỗi lo sợ toàn diện như trường hợp Bắc Hàn, không có gì khác hơn là mang con người trở về thời nguyên thủy.  

Cũng may, con người có  lý trí và dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã đến đâu nghị lực con người vẫn âm thầm phản kháng và tìm mọi cách vươn lên. Phong trào chống sợ và vươn lên như thế đang lan rộng tại Việt Nam. Đó là một tin mừng, bởi vì bịnh sợ càng thuyên giảm nhanh bao nhiêu, ngày tự do cho đất nước sẽ đến sớm bấy nhiêu.


Trần Trung Đạo

 .

Ý kiến bạn đọc
07/10/201620:38:40
Khách
Nhà văn nổi tiếng ở miền Bắc Nguyễn Tuân : Tất cả chúng ta đều mang chung một họ :Họ "Sợ ".
07/10/201620:37:27
Khách
Lê-nin: “Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được”.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuối cùng thì hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa cũng đã tổ chức xong Đại Hội Đảng và đã chính thức tấn phong hai liên danh Obama-Biden và McCain-Palin đại diện cho hai đảng tranh cử chức vị tổng thống-phó tổng thống Mỹ trong Tháng Mười Một tới.
Là nước nhỏ, Việt Nam ta không tránh khỏi sự chọn lựa khó khăn cho thế ngoại giao thích hợp trong bối cảnh chính trường phức tạp của một thế giới đa diện ngày nay, đặc biệt là đối với các siêu cường.
Tủ sách Tiếng Quê Hương đang phát hành tập hồi ký ĐỜI TÔI của Nguyễn Liệu, người bị Cộng Sản kết án tù tại Liên Khu V từ khi 18 tuổi
Nhân dịp lướt mạng để đọc tin về bạn Điếu Cày, trên trang Web Dân Báo, trên trang Blog CLBNBTD, và trên nhiều trang Blogs khác, tình cờ túm cổ được đôi ba nhận xét thấy cần phải đệ đạt, kiến nghị cùng quý anh chị em nghiệp dư làm báo, như sau:
Tướng Lê Quang Lưỡng sinh năm 1932 quê tại tỉnh Bình Dương. Thời niên thiếu, học hết bậc Tiểu học tại tỉnh nhà ông lên Sài Gòn theo học tại Trường Trung Học Petrus Ký.
Thế Vận Hội lần thứ 29, tổ chức tại Bắc Kinh đã kết thúc một cách mỹ mãn sau 16 ngày các lực sĩ, vận động viên trên toàn thế giới tranh đua, ra sức thi tài.
Phần đông người Việt hải ngoại chúng ta không ai không biết Lê Văn Khoa. Ông nổi tiếng trong nhiều sinh hoạt nghệ thuật, nhất là ở hai lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh. Ở phương diện này ông là một nghệ sĩ đa năng.
Có bản thánh ca quen thuộc, đầu đề bằng tiếng Latinh là: “Ubi Caritas...”Bản thánh ca này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và phổ nhiều điệu nhạc khác nhau. Bản tiếng Anh là “Where There Is Love...”
Vào thế kỷ 20, người Do Thái đã làm được ba phép lạ. Phép lạ thứ nhất: từ một lớp người mất tổ quốc, bị phát lưu lang thang đi khắp thế giới gần hai ngàn năm, vậy mà họ đã tụ về lập nước lại được.
Câu chuyện Thái Hà đã được nhiều cơ quan truyền thông của Quốc tế, Việt cộng và cả Cộng đồng hải ngoại tường thuật nhưng với cái nhìn khác nhau. Quốc tế thì tường thuật dưới khía cạnh đàn áp tôn giáo khi công an ra lệnh bắt giữ một số giáo dân và tung hơi cay giải tán các buổi lễ cầu nguyện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.