Hôm nay,  

Tháng Tư và tờ nhật ký trên biển

4/30/201600:03:00(View: 7443)
Tháng Tư và tờ nhật ký trên biển
 
Bùi Văn Phú

 

Mới đây, trong thùng tư liệu tôi tìm lại được một trang giấy với bút tích ghi chép những sự kiện trong những ngày trôi nổi trên biển sau khi rời quê hương vào cuối tháng Tư 1975.

 

Nhìn những con số, những nét chữ, một vùng ký ức không hề phai nhòa lại hiện về. Tờ giấy pơ-luya trên đó tự tay mình ghi ngày tháng, viết vội vài ba chữ, đôi ba dòng về những gì đã xảy ra trong hành trình trên biển khi rời bỏ quê hương, bắt đầu từ bến Kho 5 Sài Gòn, khi thành phố trong cơn hoảng loạn cho đến khi đến được căn cứ Hải quân Mỹ ở Subic Bay, Philippines.

 

“29-04 16g30 Depart Thứ 3”

 

Đây là hàng chữ đầu tiên trên trang giấy mỏng. Sáng nay tôi theo ông anh họ chạy từ nhà anh ở khu Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ vào thành phố bằng xe máy, lòng vòng qua nhiều nơi trước khi đến bến tàu rồi lạc mất nhau. Trong hoảng loạn, chen chúc, tôi theo một phụ nữ với con nhỏ lên tàu mà không biết rồi sẽ đi đâu.

 

Chiều hôm đó con tàu không máy mầu xanh dương có tên Saigon II được một tàu Đại Hàn kéo ra khỏi bến Kho 5 để đi về miền Tây tránh chiến tranh. Tôi nghe người lớn nói thế.

 

“30 9g30’ đầu hàng 11g30 CS vô Thứ 4”

 

Đó là ngày thứ Tư 30/4/1975. Tin đầu hàng tôi nghe được trên boong tàu, từ radio trên tay một người có dáng cao lớn, đầu hói đang ngồi ở phía đầu tầu cùng vài người khác, tất cả ngó về phía trước. Còn tôi ngồi dựa lưng vào thành tàu để có gió làm cho bớt mệt sau cơn ói vì say sóng và vì đêm qua ở dưới hầm tàu rất ngột ngạt. 9 giờ 30 phút đầu hàng. 11 giờ 30 cộng sản vô.

 

Lúc sau từ radio phát ra những lời ca quen thuộc: “Rừng núi giang tay nối lại biển xa…”

 

“Chúa Nhật 04 tháng 05, 1975 tới Singapore hồi 7g30 Sg (7g địa phương). Tới 12g được tin chính phủ Singapore thừa nhận CPCMLT [tức Chính phủ Cánh mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam], lo sốt vó không biết làm sao, tính đi về Đài Loan nhưng xa quá, đi Úc, Guam cũng vậy. Số mạng chúng tôi thật như chỉ mành treo chuông.”

 

Như thế con tàu được kéo đi lòng vòng 5 ngày mới đến Singapore. Những ngày qua tôi chỉ thấy chung quanh là biển bao la. Xa xa phía trước là sợi dây thừng to chìm dưới nước được nối vào đuôi con tầu Đại Hàn đang kéo Saigon II theo sau.

 

Đêm về dưới hầm tàu tôi cố tìm giấc ngủ nhưng không thể được vì cứ nghĩ đến gia đình bỏ lại, nhớ bạn bè, nghĩ về tương lai vô định.

 

Có sáng trên boong tàu nghe người lớn kể trên đường đi muốn vào Mã Lai nhưng bị hải quân Mã nổ súng đuổi đi mấy lần.

 

Cơm trên tàu có chú Thành là hoả đầu quân, nấu cơm bằng thùng phuy cho 300 người ăn nên có hột khê, hột sống. Nước ngày được chừng một ly.

 

Đến được Singapore nhưng quốc gia này không nhận cho người tị nạn tạm trú. Ông chủ tàu Nguyễn Văn Ngọc và chú Tư bàn với thuyền trưởng Đại Hàn về dự định sẽ đi đâu. Tôi cũng như mọi người đều lo không biết tương lai sẽ trôi dạt đến nơi nào, vì tàu không có máy làm sao đi xa được nữa trong khi Singapore có thể trả người tị nạn về lại Việt Nam.

 

Ngoài khơi hải phận Singapore, chung quanh thấy cũng có nhiều thuyền bè khác với người Việt trên đó.

 

“9-5 22g chuyển tầu Thứ 6”

 

Hôm nay là thứ Sáu ngày 9/5. Năm ngày qua tàu neo trong vùng biển Singapore, chúng tôi được cung cấp thức ăn có bánh mì, jăm-bông, cá hộp, patê hộp (Made in China) và cam táo. Những lát bánh mì kẹp hình vuông đầu tiên tôi được ăn trong đời và cảm thấy ngon nhất là lúc này.

 

Nhìn vào thành phố rực sáng ánh đèn. Những đêm qua trên tàu có lính Singapore lên canh gác. Dù tiếng Anh kiểu “cá nấu chè” tôi cũng cố gắng mở miệng nói ít câu và làm quen được với một anh lính hay đem kèn hạc-mo-ni-ca lên tàu giúp vui. Chúng tôi tặng nhau những đồng tiền Singapore và Việt Nam Cộng hòa để làm kỷ niệm.

 

Đêm thứ Sáu 9-5 lính Singapore ra lệnh cho chúng tôi chuyển sang một tàu khác để ra đi.

 

Qua một du thuyền nhỏ rồi được đưa lên một con tàu trên đó đã đông nghẹt người Việt, chen chúc nhau trên boong không còn một chỗ trống, ngoài lối đi nhỏ quanh tầu. Tôi xuống hầm tìm một chỗ nằm vì lúc này lại cảm thấy say sóng, muốn ói.

 

Sáng ra, không chịu nổi không khí ngột ngạt dưới hầm, tôi leo lên boong và thấy toàn người là người. Saigon II cũng lớn bằng tàu này, nhưng chỉ có khoảng 300 người. Nay trên tàu Đông Hải có đến 2 nghìn người.

 

“11-5 ra đi 5g30’ CN”

 

Sáng sớm Chủ Nhật ngày 11/5 mấy chiến thuyền của hải quân Singapore hướng dẫn đưa Đông Hải ra hải phận quốc tế và chỉ hướng đi Philippines.

 

Không thể ở dưới hầm, vì quá ngột ngạt và lúc đó lại đang có dịch đỏ mắt. Tôi tìm được một chỗ ngồi lơ lửng trên tấm phên trên một cột sắt cao cách sàn tàu chừng hai mét, dù phải chịu nắng mưa nhưng luôn gió mát vẫn dễ thở hơn.

 

“16 6 tới vịnh 13g20 17g lên subic bay (Philip)”

 

Năm ngày sau Đông Hải đến Philippines. Có cuộc bốc thăm cho một số người xuống tàu vào Subic Bay. Tôi theo gia đình ông anh họ xuống một tàu của Hải quân Mỹ và được lên bờ lúc 5 giờ chiều ngày thứ Sáu 16/5/1975. Nghe nói con tàu Đông Hải sau đó tiếp tục hải trình đi Guam.

 

Đặt chân lên đất liền người tôi nghiêng ngả bước đi vì say đất. Tối hôm đó, nơi vòi nước công cộng trên đảo Grande Island tôi đã tắm gội thật lâu cho sạch muối biển trên người và gột rửa đi những mệt nhọc sau 17 ngày lênh đênh trên biển.

 

Giữa thập niên 1980 tôi trở lại Đông nam Á làm việc, trong một chuyến công tác ở trại tị nạn Bataan, Philippines tôi đã ghé về thăm Subic Bay.

 

Lúc công tác ở trại Galang, Indonesia tôi cũng đã trở lại Singapore và có dịp gặp lại anh lính mà tôi quen trên tàu Saigon II. Đến nay chúng tôi vẫn còn liên lạc với nhau.

 

© 2016 Buivanphu.wordpress.com

 
blank

H01: Thời khắc rời Sài Gòn và ghi chú về sự kiện của ngày 30/4/1975 (ảnh Bùi Văn Phú)

 
blank

H02: Đến được Singapore nhưng lại là những lo âu vì không biết sẽ phải đi đâu (ảnh Bùi Văn Phú)

 
blank

H03: Đồng tiền người lính Singapore ký tặng tác giả để làm kỷ niệm (ảnh Bùi Văn Phú)

 
blank

H04: Tác giả, bên phải, cùng với gia đình người anh họ trên đảo Grande Island ở Subic Bay, Philippines tháng 5/1975 (ảnh Bùi Văn Phú)



.
.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.