Hôm nay,  

Kim Vân Kiều Ca

02/09/201506:25:00(Xem: 11299)

Kim Vân Kiều Ca
.
Phó phẩm Đoạn Trường Tân Thanh
thế kỷ 19 ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh.
 
Nguyễn Văn Sâm (giới thiệu và phiên âm lần đầu tiên 2015)

 
blank

Bản Kim Vân Kiều Ca nầy (Thư Viện Quốc Gia HN ký hiệu R560, trang 1-4) và bản Túy Kiều Phú (tài liệu chép tay NVS sưu tầm) cùng nhiều bài văn ngắn khác liên quan đến đề tài Thúy Kiều thể hiện ảnh hưởng sâu đậm của Đoạn Trường Tân Thanh tới dân chúng miền Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Tôi gọi loại nầy là phó phẩm của Truyện Kiều. Kiều là tác phẩm có quá nhiều phó phẩm, Vịnh Kiều Tập Tự của Chu Mạnh Trinh, (chép chung trong sách Sãi Vãi, ký hiệu AB. 383) là một thí dụ nhỏ. Căn cứ trên số phó phẩm đó ta thấy rõ ràng giá trị của ĐTTT và thấy ngay ảnh hưởng vô vàng sâu đậm trong dân gian cũng như học giới của miến đất mới phía Nam. Về sau, nầy mặc dầu có những phó phẩm bằng quốc ngữ như thơ Hoạn Thư Bắt Thuý Kiều, của Lê Hoằng Mưu hay Thúy Kiều Án (của ?) và những thơ vịnh Kiều khác nhưng ảnh hưởng không bằng hai bài văn Nôm nói trên.

Giải thích chuyện nầy tôi cho rằng những từ ngữ Nam Kỳ Lục Tỉnh đã gây cảm giác trong lòng người đọc như sự bàng hoàng xúc động của đứa con đi xa  lâu ngày nay trở lại làng quê, bồi hồi xúc động trước bụi tre đầu ngõ có lúc mình đã sợ ma, con đường đê gập ghềnh vẫn như xưa thấp thoáng những ngôi mộ ông bà làng nước, con rạch nhỏ từng tắm sông quậy nước khi chưa biết mắc cở, cái giếng làng tụ hội khi mới lớn… Tất cả hình ảnh trên nhờ những từ ngữ đặc thù kia mà hoạt cảnh của quá khứ kéo trở về trong trí: nhà trò, một đò, mà tế Đạm Tiên, còn đương ngần ngại, trên quan dưới lại, dọc đàng, phối hợp cùng chàn, vơi tát, khát mặt thung huyên, phản trá, dắt díu nhau... không thể kể hết.

Bóc đại cầu âu một câu nào đó như:

              Bạc tiền đâm lẽ phải có là bao!

hoặc:     Tóc da coi yểu điệu cũng nên dường.

hay:

Chàng có quyết cương thường đại đạo,

Trình song thân định liệu nhơn duyên.

Giao phím đàn với mảnh gương nguyền,

Bỗng nghe tiếng đỗ quyên gáy giục.

Sẽ thấy những từ ngữ rặc ròng Nam kỳ hoặc ngay cả tiếng dùng chung cho cả nước đi nữa nhưng cấu trúc câu theo thế cách nào đó mà hương vị Miền Nam vẫn hiện diện. Tìm hiểu  kỷ lưỡng cấu trúc đặc biệt đó thì nhiêu khê như phân tích một mùi hương. Khó dàng trời biển.

Quí cụ xưa chép tay bản Nôm nào đó thường là chép từ bản trong trí nhớ mà xưa mình được học thuộc lòng, nên nhiều khi có những bất cập. Thí dụ dư câu 208, dư chữ [tiền] ở câu 206, người đời sau đọc có thể tự ý sửa hay cẩn thận hơn chỉ là ghi nhận.

Sau bài Kim Vân Kiều Ca nầy chúng tôi sẽ giới thiệu bài Túy Kiều Phú hay hơn, dài hơi hơn mà tôi ngờ là Kim Vân Kiều Ca xuất hiện trước, người đời sau nhân đó có hứng khởi viết Túy Kiều Phú.

Xin mời đọc bản phiên âm quốc ngữ …

 

 

(1a)    Xem truyện cũ trào Minh Gia Tĩnh,                   01

Có hai người con gái họ Vương.

Thúy Vân kia mày mặt nở nang,

Chị Kiều nọ khôn ngoan sắc sảo.

Gẫm từ thuở mai hoa phát tảo,                      05

Tóc da coi yểu điệu cũng nên dường.

Đã lãu thông Kinh, Sử văn chương,

Lại gồm biết cầm kỳ thi họa.

Thanh Minh tiết rủ nhau đi viếng mả,

Chật giữa đường xa mã nghinh ngang.           10

Xứ xứ đều quang rạng lửa hương.

Thấy một mộ bên đường không kẻ đắp.

Kiều trông thấy sa tâm tuất cập[1],

Hỏi Vương Quan cho tỏ sự duyên do.

Mồ Đạm Tiên xưa ấy nhà trò,                        15

Hồng nhan cũng một đò trong cuộc thế.

Kiều nghe biết bỗng liền sa lệ,

Đốt tuần hương mà tế Đạm Tiên.

Chẳng ai ngờ đồng bịnh tương liên,

Khoảnh khắc đã đưa tin thi thập thủ.             20

Sổ đoạn trường căn do tự đủ,

Kiều ngâm rồi khủng cụ biết bao.

Buổi hoàng hôn trời đã xế chiều,

Vương Quan giục hai Kiều trở lại.

Trong việc trước duyên trời đưa lại,               25

(1b)    Gốc phù dung gặp gã Trọng lang,

Tạ từ rồi khách khách lai hàng,

Nào ai biết lòng chàng ra có dục.

Thuê nhà chỗ đông lân trọ học,

Ngày ngày thường chúc mục đông song.                  30

Việc chẳng qua sự bởi Thiên công,

Lạc thoa ấy tơ hồng định trước.

Lấy của ấy làm tin cẩn ước,

Xui chàng Kim bắt được đem về.

Trước án tiền ý hỡi tê mê,                               35

Nhác nghe tiếng bên kia xin lại.

Tay cầm thoa còn đương ngần ngại,

Dựa án thư giấc hỡi mơ màng.

Lắng tai nghe vẳng vẳng tiếng nàng,

Xếp khúc họa cung đàn xang cống.                40

Hỏi hát quá xui nên lòng động,

Lúc mê man toan giở giọng lần khân.

Nể lòng chàng vâng chịu ân cần,

Xin thương lấy chút thân bồ liễu.

Chàng có quyết cương thường đại đạo,           45

Trình song thân định liệu nhơn duyên.

Giao phím đàn với mảnh gương nguyền,

Bỗng nghe tiếng đỗ quyên gáy giục.

Cung đờn dạo còn đương dở khúc,

Thơ nhà chàng, hiếu phục nghiêm thân.                   50

Kẻ ra về trong dạ tần ngần,

Người lên ngựa bâng khuâng lòng khoải khoắc.

Lúc tai họa dắt nhau vào lối chật,

Cả hai nhà cùng mắc nạn oan gia.

(2a)    Thằng bán tơ vu cáo gian tà,                                     55

Cho đến nỗi ông già mắc nạn.

Đáo tụng đình cửa nhà muôn vạn,

Lúc sai nha do dác[2] cũng như không,

Chữ hiếu trung trông thấy đau lòng,

Hai tay trắng sao xong lẽ phải[3].                     60

Việc chẳng qua trên quan dưới lại,

Bạc tiền đâm[4], lẽ phải có là bao!

Đạo làm con để thế trông vào[5],

Cơ tạo hóa khiến sao vâng vậy.

Bán mình đã tờ giao, hàng lấy[6],                      65     

Đem đầu vào lễ chú Đề Chung.

Tội oan gia rửa sạch như không,

Việc nhà lại thong dong như trước.

Ngoảnh ra thấy Giám sanh đàng trước,

Chường song thân sau trước cụ trần[7].             70

Duyên chàng Kim giao lại em Vân,

Khách địa mặc mưa Tần gió Sở,

Ngoảnh ra thấy Giám sanh lên ngựa,

Đỗ xe loan đi trả nợ bồng tang,

Đến dọc đàng phối hợp cùng chàng,               75

Sáng mai thấy cửa hàng sai đón rước.

Thấy hai ả cài trâm giắt lược,

Đứng đôi bên hữu tượng Bạch Mi Thần.

Thấy cơ đồ[8] trong dạ tần ngần,

Lại một mụ vắt chưn ngồi ghế chéo[9].              80

Phận ti tiểu đã đành cam chịu,

Lại làm ra cách điệu xuân huyên[10].

(2b)    Khi sa cơ mới phải tòng quyền,

Tiểu đao đấy nàng liền tự tiện.

Trong mê thấy Đạm Tiên ứng hiện,                85

Bảo[11] hồng nhan còn vướng nạn sông Tiền.

Hễ bao giờ chị xuống giang biên,

Mới sạch nợ trần duyên từ đó.

Tú bà mới nhỏ to khuyên nhủ,

Khóa buồng xuân cho bỏ lúc phong trần.                90

Khi cô mình ngâm bức thơ thần,

Chẳng may gặp bất nhân thằng họ Sở.

Thơ tích việt an ngày chạy ngựa,

Thượng sách đem làm nhở hồng nhan.

Vì Sở Khanh nên đóa hoa tàn,                       95

Mà Mã Giám là gian rồi mới biết.

Gặp Thúc sanh cửa nhà lẫm liệt,

Đủ nghề chơi, nghe biết tiếng nàng.

Bốc lên làm ra mặt giàu sang,

Hỏi giá cũ bạc vàng đem chuộc lại.                 100

Tú bà tính cũng đà có lãi,

Dọn hoàn nàng giao lại cho chàng.

Chẳng ai ngờ nhân quả dở dang,

Nghiêm phụ lại chẳng thương đi kiện cáo.

Nhờ Lịnh Doãn quảng khai đại đạo,               105

Xin Thúc ông kiện cáo ích gì.

Xử hòa cho bái tạ đi về,

Còn một nỗi chánh thê bất tháo[12],

Đêm ngày giục Thúc sanh qui cáo,

Phận tiểu tinh ngại có tương lai?                    110

Chẳng ai ngờ nỗi ếch bưng tai,

(3a)     Cho đến nỗi lâu đài tan tác,

Thây vô chủ đem vào thay khác,

Thuốc mê đâu bắt uống mơ màng.

Như đàn bà thế ấy mới gan,                                     115

Rồi mới biết nhân gian địa ngục.

Một năm nữa, lại về, chàng Thúc,

Chàng nói rằng hiếu phục vừa xong.

Hoạn Thư khen chí hiếu rất lòng,

Truyền lấy rượu luận công gia tưởng[13].          120

Đuổi  nàng xuống thị hầu dưới trướng,

Hoạn Thư ngồi tiệc thượng cười thầm.

Tính làm cho bỏ lúc đau ngầm,

Chén rượu chuốc phải cầm uống gượng.

Giả say quá làm điều gục xuống,                    125

Hoạn Thư liền thét mắng con hoa.

Diệu Thiền kia còn muốn chồng ta,

Khuyên chẳng cạn, khôn qua tiến trượng[14].

Thương mà sợ phải ngồi uống gượng,

Trông mặt chàng hình trạng ủ ê.                     130

Hoạn Thư ngồi trướng rũ màn che,

Thấy hai mặt e dè khắc túc.

Giao quyền bính lại cho chàng Thúc,

Toan làm cho sỉ nhục cả hai người.

Có lẽ đâu dưới đất trên trời,                                     135

Thôi cũng nghĩ cho ra ngoài Quan Âm Các.

Cũng rắp chí ra tu hành lạc,

Chẳng ai ngờ chàng thoái thác liền ra,

Còn đương than thở gần xa,

(3b)    Chợt[15] trông thấy giày bà bước lại.              140

Đêm nằm nghĩ biết bao sợ hãi,

Cửu lưu thần ắt hại lâm thân.

Sẵn mọi đồ chuông khánh kim ngân,

Thầm dắt để hộ thân chóng tựu.

Nửa đêm thấy chúng tăng an ngủ,                            145

Cất mình đi tầm thú phương xa.

Đem đầu vào lạy Tam Hợp sư già,

Nộp chuông khánh để mà ký thác.

Chẳng may ra gặp con mụ Bạc,

Chính nó là một tổ bợm già.                                    150                      

Bảo Sư rằng chuông khánh Hoạn gia,

Sư dung túng ắt là tai họa.

Ai ngờ nó dụng tâm phản trá,

Đem về nhà ép gả Bạc sanh.

Dắt díu nhau đem bán Lâm Thanh,                155

Hay đâu cũng lầu xanh một tổ.

May lại gặp anh hùng cứng cổ,

Nghiêng góc trời cờ mở trống giong.

Vả Từ công lẫm lẫm uy phong,

Sức thao lược xương đồng da sắt.                            160

Nghe thấy tiếng Thúy Kiều tài sắc,

Thoắt nhìn qua nét mặt quá ưa.

Hỏi trước sau Kiều phải trình thưa,

Sai bộ tốt phất cờ đến rước.

May gặp hội duyên ưa cá nước,                      165

Nợ hồng nhan từ trước sạch sanh.

Xuống khấu đầu nhờ cậy oai linh,

(4a)    Giả ân oán bất bình phen lưu lạc.

Khi ân oán bể hồ vơi tát,

Phút động lòng khát mặt thung huyên[16],            170     

Muốn sao cho trung hiếu vẹn tuyền,

Cho phỉ chí thiền quyên sở nguyện,

Xem chàng giở những đồ chinh chiến,

Như Hoàng Sào, Ô Viện có ai khen!

Đứng Thánh quân lẫm lẫm uy quyền,                 175

Ai ai cũng đội trời trên cả.

Sao bằng chịu từ bi hỷ xả,

Hội Hoàng triều chức cả có ai đương.

Tính thiệt hơn quyết chí hồi đường,

Cho đến nỗi chiến trường bỏ lại.                          180

Hồ Tôn Hiến chướng vô sở ngại

Lập gian mưu sát hại Từ công,

Thâu linh tiền, một tiếng súng đồng,

Ai ai chẳng hãi hùng quan Đổng?

Mê binh hiển để nàng vọng hống,                        185

Tiếng Hồ công nhứt thống  mỗi danh.               

Đến hạ công[17] tướng sĩ trong thành,

Giả say tỉnh ép tình mỹ nữ.

Rạng ngày mai tỉnh ra biết sợ,

Ép nàng vào làm vợ Thổ quan.                              190

Sẵn xe loan rước thẳng xuống thoàn,                 

Hỏi mới biết sông Tiền là đấy.

Hỏi Đạm Tiên có chờ ta đấy,

Hẹn cùng ta rước lấy ta về.

Nói dứt lời nàng quyết một bề,                              195

(4b)    Theo dòng nước trở về quê trước.                    

Như thế ấy mới gan thao lược[18],

Rửa sạch mùi ô trược[19] mới xong,

Dưới dòng sông ghi chữ tình thâm,

Ai ai cũng hương chìm đáy bể,                               200

Thổ quan sợ biết sao mà kể.

May gặp người hiếu để tiên tri.

Sư rằng song chẳng hề chi,

Thuê thuyền trực dòng sông đến rước.

Thúy Kiều hỡi còn lòa bóng nước,                         205

Vãi Giác Duyên bái tạ Phật [tiền] đường.           

Vợ chồng Vân với cả chàng Vương,

[Đem nhau đến sông Tiền Đường sám hối.]

Bên kia sông lập đàn tràng sám hối,

Bài vị đề hương khói ngạt ngào.                             210

May gặp khi vãi Giác đi vào,                                

Nói một tiếng cả nhà mừng rỡ.

Ai ai cũng quá vui mất sợ,

Mừng cho nàng sạch nợ bồng tang.

Dắt díu nhau đến lạy Phật đường,                           215

Tạ Giác Duyên, cố hương trở lại.                          

Như nàng đủ nhân trung hiếu ngãi,

Nỗi chàng Kim nghĩ lại tình xưa.

Chẳng quản chi hoa thải hương thừa,

Sum hợp lại một nhà vinh hiển.

Như thế ấy lấy trong cổ truyện,                              221

Dẫu dở hay lấy đấy làm ghi.

 

 

Kiều lục chung (Hết)

Nguyễn Văn Sâm phiên âm

tại Victorville, CA xong ngày 10 Aug. 2015

 

 


[1] Sa tâm tuất cập 沙心 恤及: Đem lòng thương xót.

[2] Do dác 遊覺: xét hỏi, điều tra.

[3] Không tiền thì cũng chẳng có lẽ phải.

[4] Diễn ý câu: Nén bạc đánh toạt tờ giấy!

[5] Làm con sao cho người đời (thế) không chê cười.

[6] Thân nàng Kiều lúc nầy như món hàng, khi bán rồi thì phải giao.

[7] Cụ trần 具陳: Giải thích, trình bày.

[8] Thấy cơ đồ: Thấy sự việc.

[9] Ghế chéo: Có thể hiểu là ghế xếp, từ ghế xếp thấy trong tự điển của HTC. Cũng có thể hiểu ngồi ghế chéo là ngồi chéo ghế, ngổi trên một phần nhỏ của ghế.

[10] Làm bộ mẹ.

[11] Trong truyện Kiều, Đạm Tiên báo mộng biểu rằng… Bản Nôm câu nầy thiếu chữ, người đọc trước thêm chữ người 𠊚 có lẽ lầm với chữ bảo 保.

[12] Chánh thê bất tháo 正妻不造: Chưa thông đạt/tri cho vợ lớn.

[13] Gia tưởng 嘉奬: Khen thưởng.

[14] Không qua tiến trượng 坤戈進杖: Không khỏi bị đòn.

[15] Trong câu nầy thì dùng chợt đứng trước động từ. Khi nói ‘chợt mưa chợt nắng bởi vì đâu…’ cũng là dùng nắng mưa như động từ’.

[16] Khát mặt thung huyên 渴𩈘椿楦: Nhớ đến cha mẹ.

[17] Đến hạ công 旦賀功: Tới lúc ban thường. Chữ đến 旦đã viết lầm thành vả 且.

[18] Chữ thao lược 韜畧 đây như là không được ổn.

[19] BN viết ô thước 烏鵲. Nghĩ là ô trược. Xin chất chính!

.
Ghi chú của Việt Báo: GS Nguyễn Văn Sâm cũng vừa phiên âm và chú giải “Tỉnh Mê Một Cõi” (tức Hứa Sử Truyện), một tác phẩm truyện thơ chữ Nôm ấn hành thành 2 tập, trong đó GS Trần Ngọc Ninh giới thiệu và nhận định, Cư sĩ Nguyên Giác viết Lời Bạt. Sách vừa do Viện Việt Học ra mắt (https://vietbao.com/a242334/ra-mat-tinh-me-mot-coi-truyen-tho-nom-the-ky-18) . Tác phẩm 2 quyển này, có thể mua trọn bộ giá 30 USD (bao gồm cước phí trong nội địa Hoa Kỳ); xin liên lạc tác giả: Nguyễn Văn Sâm, email: [email protected] .
.
,
.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.