Hôm nay,  

Cuộc Chiến Quốc-Cộng, Quan Trọng Ở Ý Thức Hệ

13/06/201500:00:00(Xem: 5557)
Nguyễn Lộc Yên
(Viết cho ngày Quân Lực VNCH)

Học thuyết do Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) là 2 người Đức (German), được Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924) và Josef Stalin (1927-1953) là 2 người Nga (Russia) phát triển và đưa đến đấu tranh giai cấp, được gọi là cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, nhưng Marx và Lenin được nói đến nhiều hơn. Từ đấy, người ta gọi là Chủ nghĩa Marx-Lenin, được coi là ý thức hệ chính thức của Liên Xô vào giữa thập niên 1920. Chủ nghĩa Marx-Lenin tạo ra phong trào Cộng sản Quốc tế, gây ra các cuộc đấu tranh giai cấp để gầy dựng xã hội chủ nghĩa hay Cộng sản chủ nghĩa. Cộng sản chủ nghĩa đã ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam và 11 quốc gia có khuynh hướng cộng sản: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Như vậy, tổng số các nước chính thức là cộng sản và các nước có khuynh hướng cộng sản là 26 nước. Cộng sản muốn nhuộm đỏ cả thế giới nên những Quốc gia tự do trên thế giới đã chống lại, tạo thành hai thế lực Quốc-Cộng rõ rệt.

- Theo học thuyết của Marx thì Chủ nghĩa duy vật dựa trên lý thuyết duy vật biện chứng để giải thích về quá trình lịch sử phát triển xã hội loài người, đã dựa trên mô hình của các nước Âu châu mà sự phát triển của “lực lượng sản xuất” sẽ đưa đến sự biến đổi của “quan hệ sản xuất” qua các giai đoạn: Thời nguyên thủy (thời đồ đá), đến chiếm hữu nô lệ (bóc lột), đến phong kiến (chế độ tập quyền), đến tư bản (thụ hưởng thiếu công bình) và cuối cùng là cộng sản (bình đẳng và văn minh)?!. Lý thuyết của Marx là mọi người sẽ bình đẳng, không có hiện tượng “người bóc lột người” đưa đến “thế giới đại đồng” và đề xướng: “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

- Học thuyết của Lenin cũng giống như Marx, các đảng cộng sản phải là đảng của giai cấp công nhân trên thế giới, đấu tranh theo sự nghiệp chung của vô sản trên toàn thế giới. Lenin đem áp dụng học thuyết của cộng sản vào đấu tranh, đề cao khẩu hiệu “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng” trong Đệ nhất thế chiến, từ tư tưởng này giai cấp vô sản Nga đã nhân cơ hội hỗn loạn trong nước, tạo điều kiện để đưa đến “cách mạng vô sản thành công”. Học thuyết của Lenin còn xác định: “Miễn là có lợi cho sự nghiệp đấu tranh của giai cấp vô sản thì đều là chính nghĩa, có hại cho cuộc đấu tranh đó thì đều là phi nghĩa.”

- Học thuyết của Mao Trạch Đông có thể gọi là Maoism (chủ nghĩa Mao) có sự khác biệt với Marxism-Leninism đã coi “động lực chính của cách mạng là giai cấp công nhân” và coi nhẹ giai cấp nông dân, nông dân chỉ là thành phần hỗ trợ mà thôi. Ngược lại, Mao Trạch Đông xuất phát từ điều kiện nước nông nghiệp, giai cấp công nhân còn phôi thai, xã hội của nước Tàu lúc ấy mâu thuẫn nông dân và địa chủ là cốt lỗi, nên Maoism coi “lực lượng cách mạng chủ lực” là giai cấp nông dân và “Nông thôn là căn cứ địa của cách mạng”, vì vậy học thuyết chủ yếu của Mao là “Lấy nông thôn bao vây thành thị” và “Súng đẻ ra chính quyền”. Mao còn đưa ra lý luận về chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân, đã cổ động trong tác phẩm “Du kích chiến” của Mao mà ở đấy nghiên cứu kỹ càng về quân sự, chính trị, tâm lý và các phương thức xây dựng căn cứ địa, tiến hành chiến tranh nhân dân ở nông thôn. Maoism còn khác với Marxism-Leninism tiền bối là không đặt vấn đề giai cấp lên trên dân tộc, lại coi quyền lợi quốc gia là thiết yếu dù phải chiến tranh giành quyền lợi cho đất nước mình.

Chủ nghĩa cộng sản bao gồm các lý luận về luồng tư tưởng: Chính trị, kinh tế, xã hội. Cộng sản hy vọng xóa bỏ hình thái kinh tế, xã hội của “chủ nghĩa tư bản”, để xây dựng một xã hội không giai cấp không có quyền tư hữu. Chủ nghĩa cộng sản phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 19 và bắt đầu suy tàn trong thế kỷ 20. “Chủ nghĩa cộng sản là không tưởng” nên các nước Cộng sản Đông Âu đã sụp đổ năm 1989, Cộng sản Liên Xô đã tan rã năm 1991, quốc kỳ Liên Xô tại điện Kremlin phải hạ xuống để thay thế bằng quốc kỳ Nga và Nga tuyên bố thừa nhận nền độc lập của mười hai (12) nước Cộng hòa trong Liên bang Xô Viết. Đến nay còn tồn tại 5 nước cộng sản: Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Người viết xin nói qua về “Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng trên thế giới” và “Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam”.

I - Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng trên thế giới:

Cuộc chiến Quốc-Cộng tại nước Tàu thời gian từ tháng 4 năm 1927 đến tháng 5 năm 1950. Cuộc chiến bắt đầu khi phái cánh hữu của Quốc dân đảng do Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch dẫn đầu đã thanh trừng những người cộng sản và cánh tả của Quốc dân đảng, Quốc dân đảng được phương Tây ủng hộ và Đảng Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo được Liên Xô chỉ đạo. Khi quân Nhật tiến chiếm lãnh thổ Mãn Châu làm thuộc địa, thì hai phía Quốc-Cộng tạm ngưng các cuộc tấn công quân sự lẫn nhau, để thành lập “Mặt trận thống nhất Trung quốc đệ nhị” tập trung vào việc chống kẻ thù chung là đế quốc Nhật. Năm 1937, Nhật cho máy bay ném bom các thành phố của nước Tàu, đồng thời tung các đạo quân tinh nhuệ đánh chiếm miền bắc và miền duyên hải nước Tàu. Thế mà, hai phe Quốc-Cộng chỉ liên minh trên danh nghĩa, nên cả Quốc dân đảng lẫn đảng Cộng sản đều tìm cách chiếm đóng những lãnh thổ không nằm trong tay quân đội Nhật. Sau đó, Quốc dân đảng lại giao tranh với quân Nhật khiến cho lực lượng của Quốc dân đảng phải chịu nhiều tổn thất. Vì vậy, khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt (1945) thì Đảng Cộng sản còn mạnh và chiếm ưu thế. Đến ngày 1-10-1949, tại Thiên An Môn, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước “Cộng hòa Nhân dân Trung quốc” trên Lục địa Tàu, theo chế độ Cộng sản như Liên Xô, còn phe Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thì giữ Đài Loan.

Đến năm 1950, các lực lượng đồng minh do Mỹ lãnh đạo, với danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Tại chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Bắc Triều Tiên do Tổng Bí thư Kim Nhật Thành lãnh đạo với sự chỉ đạo của Liên Xô, đã tấn công Nam Triều Tiên. Chính phủ Nam Hàn do Tổng thống Lý Thừa Vãn thống lĩnh với sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, đã đẩy lùi quân đội của Bắc Triều Tiên. Ngày 7-10-1950, quân Liên Hiệp Quốc vượt vĩ tuyến 38. Mao lo ngại chiến tranh có thể lan rộng đến Hoa Lục, nên một ngày sau đấy, Mao liền cho thành lập lực lượng Chí nguyện quân để giúp Bắc Triều Tiên, đối đầu trực diện với lực lượng Liên Hiệp Quốc. Sau 3 năm, chiến cuộc kết thúc khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27-7-1953.

II - Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam:

Cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam đằng đẵng 20 năm (1954-1975) giữa miền Bắc Việt Nam được gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) theo chế độ Cộng sản. Miền Nam Việt Nam được gọi là Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) còn có thể gọi là chính thể Quốc gia. Cuộc chiến bằng vũ lực đã chấm dứt ngày 30-4-1975, nhưng chưa chấm dứt về “Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”. Cuộc chiến bằng vũ lực tại miền Nam Việt Nam đã gây ra cảnh huynh đệ tương tàn, cuộc tương tàn này có phải là nội chiến không? Cuộc tương tàn này có giống cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam thời Lê-Mạc phân tranh 47 năm (1545-1592) hay thời Trịnh-Nguyễn phân tranh 45 năm (1627-1672) không? Cuộc chiến này có giống cuộc nội chiến của Hoa Kỳ (1861-1865) xảy ra giữa các Tiểu bang (War Between the States) đã tương tàn, do Chính phủ Liên bang miền Bắc (Union: 25 tiểu bang) chiến đấu với Liên minh miền Nam (Confederate States of America) của Hoa Kỳ không? Xin thưa không, vì sao?: Vì cựu Tổng bí thư Lê Duẩn đã thành thật thú nhận: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”!

Ngày 8-3-2015, Đài RFA đã phổ biến: “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu”, nói về nhà báo Bắc Việt Trần Quang Thành, người từng có mặt với Trần Văn Trà và Dương Văn Minh tại dinh Độc Lập ngày 1-5-1975. Sau này, Thành viết: “...Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyên truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.”

Những nguyên nhân chính mà miền Nam Việt Nam bị thất bại vào năm 1975?!:

1 - Quân đội miền Nam Việt Nam thiếu quân dụng, đạn dược để chiến đấu, mời xem bài “Những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam” của Giáo sư Robert F. Turner ở Đại Học Luật Khoa Virginia và Học Viện Hải Quân thuộc Trung tâm an ninh Luật Pháp Quốc Gia, ông đã thẳng thắn nói rằng: “Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004, do Giáo sư John Lewis Gaddis là Khoa trưởng American Diplomatic Historians đã nhận định đúng đắn: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định. Nhưng quốc hội với áp lực của Phong trào Hòa Bình đã thông qua dự luật vào năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la. Đó là sự thật, Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là Việt Nam không có đạn, không có xăng, không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe”.

2 - Trước năm 1975: Người miền Bắc lầm lẫn tin chủ nghĩa Cộng sản, người miền Nam thờ ơ với cuộc chiến. Điều này chính những người trí thức ở miền Bắc đã lầm lẫn và hối hận, như: Nhà báo Trần Quang Thành đã nêu ở trên.

Bùi Tín từng phục vụ trong đảng CSVN 44 năm, từng là Phó tổng biên tập báo Nhân Dân, kiêm Tổng biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật. Năm 1990 Bùi Tín sang Pháp dự hội hàng năm của báo LHumanité, nhân đấy xin tỵ nạn tại Pháp. Ban đầu ông chỉ phê phán đường lối cai trị của ban lãnh đạo đảng CSVN, nhưng vẫn tin tưởng “Bác Hồ”, sau thời gian dài 25 năm sống ở Pháp, ở thế giới tự do có dịp tìm hiểu giữa Quốc-Cộng, trong bài viết bàn về hai chữ: “Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)” do đài VOA phổ biến ngày 2-6-2015, ông đã giác ngộ và viết trung thực: “Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật. Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của mình. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

- Phan Huy là Bộ đội cũng là Nhà thơ sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, sau ngày “giải phóng miền Nam” đã thổ lộ qua bài thơ “Lời Anh Bộ Đội Vào Nam”:

Năm ấy tôi mới vừa khôn lớn
Hai miền đã dứt cuộc tương tranh
Hiệp định Ba Lê cùng ký kết
Tôi mừng đất nước hết đao binh...

Nhưng rồi đảng bảo tôi cầm súng
Lên đường chiến đấu ở Miền Nam
Đảng nói nguỵ quyền đầy gian ác
Dân mình trong đó sống lầm than.

Khi chiếm được Sài Gòn thì Phan Huy ngỡ ngàng và hối hận:

Bây giờ nghĩ lại càng chua xót
Cuộc chiến sao mà quá dại điên!
Sao đem xương máu người dân Việt
Xây đắp ngôi cho đảng bạo quyền?

Sau 40 năm “giải phóng Sài Gòn” thì Phan Huy tuổi đã lớn kinh nghiệm thêm già dặn, ngẫm nghĩ chính xác hơn, lại thổ lộ tâm tình qua bài thơ “Ngày Quốc hận” có đoạn:

Bốn mươi năm sau “ngày thắng cuộc”
Vẹm Cộng hiện hình đảng cướp công khai
Đất nước bên lề nô vong Hán hoá
Dân tộc trầm luân dưới ách độc tài.

Tại miền Nam Việt Nam, người chiến sĩ VNCH đang can trường chống Cộng quân nơi chiến trường vì chính nghĩa, vì bảo vệ tự do cho Đồng bào; khi đấy có bao nhiêu phần trăm Đồng bào miền Nam hiểu sự chiến đấu của chiến sĩ VNCH là hoàn toàn chính nghĩa, và sự tiến chiếm miền Nam của CSVN là hành động phi nghĩa?!

Trong khi ấy, tại miền Nam Việt Nam lại có lắm kẻ “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, như: Sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, năm 1958 Mẫm 15 tuổi, đang học lớp Đệ ngũ, trường Pétrus Ký, Mẫm được kết nạp vào tổ chức bí mật do Nguyễn Văn Chí có biệt danh là Sáu Chí. Mẫm từng được giao công tác rải truyền đơn chống chính phủ, đến năm 1960 được kết nạp vào “Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng Sài Gòn-Gia Định”?!.

Phi công Nguyễn Thành Trung (lúc đó là Trung úy Không quân VNCH) đã dùng máy bay phản lực F5-E ném bom Dinh Độc Lập vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 8-4-1975, tên thật của Trung là Đinh Khắc Chung, bí danh là Năm Chung, có anh cả là Đinh Khắc Cần, Cần đã tập kết ra Bắc rồi trở về Sài Gòn hoạt động?!.

Lê Hiếu Đằng từng là thành viên Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn trước 1975, Đằng đã lén lút hoạt động cho cộng sản, sau năm 1975 Đằng được CSVN ban cho chức vị, chức sau cùng là “Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc” tại thành phố Sài Gòn, đến lúc nằm trên giường bệnh sắp lâm chung, Đằng mới tỉnh ngộ: “Quốc hội CSVN là bù nhìn”, Đằng viết: “Đó là một hiến pháp đi ngược lại lòng dân, không có dân chủ, nhất là trong vấn đề ruộng đất”. Ôi, dù tỉnh ngộ muộn màng cũng hơn không!

Còn nhiều người miền Nam đã tiếp tế lương thực, thuốc men cho VC đến sau năm 1975 mới sáng mắt sáng lòng thì hối hận muộn màng, nhưng khuôn khổ bài viết có hạn nên không thể kể hết!

III- Nước Việt Nam hiện nay:

Nhà cầm quyền CSVN cai trị đất nước bằng độc đảng, độc tài nhưng lại quỵ lụy Tàu cộng nên tương lai đất nước rất tối tăm! Vì vậy, có một số người Việt còn nặng tình quê hương đã đấu tranh quyết liệt, nhất là tuổi trẻ, như: Sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã khẳng khái xác định tại Phiên tòa phúc thẩm ở Long An năm 2013, bằng câu nói lịch sử, “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc”.

Sinh viên Đinh Nguyên Kha đã dõng dạc trả lời tại phiên tòa tại Tòa án tỉnh Long An năm 2013: “Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội”. Các Sinh viên thật là can trường không sợ quan tòa là “Người lên đồng nói những điều không do lý trí của họ, mà họ nói những điều do phù thủy điều khiển!”.

Chúng ta cũng không thể quên lòng can trường nhiệt huyết của: Nguyễn Hoàng Vi, Đỗ Thị Minh Hạnh, Huỳnh Thục Vy, Nhạc sĩ Việt Khang, Nguyễn Đắc Kiên... Tuy nhiên, lòng sắt son đáng phục ấy chưa được đông đảo?! Dù vậy, người viết nghĩ rằng chiến thắng của CSVN ngày 30-4-1975 chỉ là chiến thắng bằng vũ lực, nhưng CSVN đã/đang thất bại về “Cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” vì thắng hay bại trong cuộc chiến ý thức hệ không thể tính bằng chiếm thành, chiếm đất mà tính bằng ý thức chính nghĩa và lòng dân.

Nhớ đến câu nói của tướng Moshe Dayan (1915-1981), ông có biệt danh "Độc nhãn tướng quân", vì mắt bên trái mang mảnh che màu đen, ông là nhà chính trị và là một danh tướng của nước Do Thái (Israel). Tướng Moshe Dayan sang thăm Việt Nam trước năm 1975, sau khi quan sát tình hình, đã nói rằng: “Muốn thắng cộng sản, phải để cho cộng sản thắng trước”. Nếu đúng như vậy, đất nước của chúng ta có hy vọng sáng sủa vậy.

Mong thay!

Ngày 12-6-2015

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.