Hôm nay,  

Hội-Nghị Manila Về Biển Đông Và Vai Trò Của Các Xã-Hội Dân-Sự

30/05/201500:00:00(Xem: 7675)
Lời Tòa Soạn.- Nhân hội-nghị hàng năm về quốc-phòng Đông-Nam-Á Shangri-La bắt đầu hôm nay, 29/5, ở Singapore mà trọng-tâm chắc chắn là tình-hình ngày càng gây cấn ở Biển Đông, tưởng cũng nên nhắc lại sự đóng góp rất ý nghĩa của các xã-hội dân-sự Việt-Phi tại Hội-nghị Manila về Biển Đông hồi tháng 3 năm nay và mấy kết-quả ban đầu của hội-nghị đó.

* * *

Hôm 27 tháng Ba 2015, một "Hội-nghị Quốc-tế về Biển Đông" đã được tổ-chức tại Trung-tâm Bernas của Trường Luật Ateneo thuộc Đại-học Tổng-hợp Phi-líp-pin (University of the Philippines) ở khu Makati, Manila, dưới sự bảo trợ của năm tổ-chức phi-chính-phủ Phi và Việt-nam, Hội Người Mỹ gốc Phi tranh đấu cho một chính-quyền thiện-trị (US Pinoys for Good Governance, tắt là USP4GG), Phong trào DI KA Pasisiil (Pinoy Patriots United, Những người Phi yêu nước), Viện Nghiên cứu các vấn-đề Biển và Luật Biển (Institute for Maritime Affairs & Law of the Sea (UP)), Họp Mặt Dân Chủ (HMDC), và VOICE.

Đây phải nói là một hội-nghị rất đặc-biệt bởi đây là lần đầu các xã-hội dân-sự ở Việt-nam và Phi-luật-tân, hai quốc gia đứng đầu ngọn sóng chống đỡ những hành-động đe dọa đến từ Trung-quốc ở Biển Đông, đã có thể vượt qua những khác biệt trong quá-khứ để làm việc chung cho một giải-pháp hòa-bình trước tình-trạng ngày càng nguy ngập ở trong khu-vực. Đúng như câu tục-ngữ của Việt-nam đã phán, "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách." Người thất phu còn có trách-nhiệm, huống hồ các xã-hội dân-sự!

Chuyện này đặc-biệt đúng trong trường-hợp của người Việt bởi trong một thời-gian 21 năm, Việt-nam bị phân chia thành hai thực-thể riêng biệt được quốc-tế công-nhận với miền Nam, được biết dưới tên Việt-nam Cộng-hòa (1954-1975), là nước có chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và (một phần) Trường-sa trong khi miền Bắc (Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa) trong thời-gian đó là một nước đồng-minh với Trung-Cộng và là một nước thù nghịch với Sài-gòn. Chính điều nghịch lý này đã làm cho Hà-nội ngày nay tỏ ra lúng túng khi họ đòi phần chủ-quyền của một nước tranh chấp với họ. Vị-thế của Hà-nội còn tệ hơn nữa bởi công-hàm ngày 14 tháng Chín 1958 do Thủ-tướng Phạm Văn Đồng ký gởi Thủ-tướng Châu Ân-lai của Trung-quốc công-nhận những định-nghĩa về lãnh-hải do Quốc-vụ-viện Trung-Cộng đưa ra 10 ngày trước đó, trong đó Bắc-kinh coi cả Hoàng Trường-sa (mà họ kêu là Tây-sa và Nam-sa) là của họ.

* * *

Hội-nghị nguyên ngày hôm đó được chia ra làm ba phần.

Phần đầu gồm ba diễn-giả người Phi-luật-tân và điều hợp bởi Tiến-sĩ Jeremy Barns, Giám-đốc Bảo-tàng-viện Quốc-gia Phi-líp-pin. Người đầu tiên phát biểu là Ngài Roilo Golez, một cựu-Cố-vấn An-ninh Quốc gia Phi và một cựu-dân-biểu nhiều nhiệm-kỳ; ông Golez trình bầy một toàn-cảnh trong bài "Bối-cảnh và Tình-hình Địa-lý chính-trị đang hình-thành ở Biển Nam-hải" ("Background and the Emerging Geopolitical Situation in the South China Sea"). Tiếp theo ông là Tiến-sĩ Celia B. Lamkin, chủ-tịch của Hội US Pinoys for Good Governance (USP4GG), bà nói về đề-tài "Xã-hội Dân-sự và những sáng-kiến của Hội USPGG về các tranh chấp trên Biển Đông" ("Civil Society and USPGG initiatives regarding the South China Sea dispute issues"). Người cuối cùng trong phần các diễn-giả Phi-luật-tân là Tiến-sĩ Jay Batongbacal, Giám-đốc Viện Nghiên cứu các vấn-đề Biển và Luật Biển thuộc Đại-học Tổng-hợp Phi-líp-pin, ông cho chúng ta một bản tin cập nhật rất đầy đủ và ý nghĩa về "Vụ kiện Trung-quốc của Phi-luật-tân" ("The Philippines' lawsuit against China").

Giàn diễn-giả thứ hai là ba người Việt do G.S. Đặng Đình Khiết (trong Họp Mặt Dân Chủ) điều hợp. Người thứ nhất là G.S. Nguyễn Ngọc Bích, Chủ-tịch Nghị-hội Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ, ông đề nghị việc "Đi tìm một giải-pháp hòa-bình cho cuộc xung-đột trong Biển Đông-Nam-Á" ("Toward a Peaceful Solution to the Conflict in the Southeast Asian Sea") dựa một phần lên trên những văn-kiện chủ-quyền chính-đáng của Việt-nam Cộng-hòa. Tiếp theo là ông Hoàng Việt, giảng-sư tại Trường Luật ở Sài-gòn, Việt-nam; ông nói về lý-thuyết "Các định-chế và phương-pháp giải-quyết tranh chấp lãnh-hải dựa lên công-pháp quốc-tế" ("Institutions and methods for resolving maritime territorial disputes under international law"). Diễn-giả cuối cùng trong phần này là Tiến-sĩ Trần Huy Bích, thủ thư về hưu thuộc Thư-viện UCLA, ông nói về "Sự thật về các chấp-ngôn lịch-sử của Trung-quốc trên Biển Đông" ("Truth concerning China's historical claims in the East Sea"). Phần trình bầy của Việt-nam này sang bữa cơm trưa còn được bổ túc bằng một màn trình bầy qua video của nghiên-cứu-gia độc-lập, cụ Nguyễn Đình Đầu ở Sài-gòn, nói về các bản-đồ chứng minh chủ-quyền của Việt-nam.

Một đặc-điểm nổi bật của hội-nghị Manila là những quan-điểm của Phi-luật-tân và Việt-nam đã được củng-cố và bổ túc bởi những cách nhìn của một giàn diễn-giả quốc-tế có trọng-lượng, dưới sự điều hợp của G.S. Đoàn Viết Hoạt. Trong số này, người ta thấy có Giáo-sư Carlyle Thayer, giáo-sư ngoại-hạng tại Viện Đại-học New South Wales (ở Úc), ông cho rằng chính-sách của Mỹ và Úc cho đến nay tương-đương với "Thuận tình ở Biển Nam-hải: Chính-sách không đứng về phe nào của Mỹ và Úc" ("Acquiescing in the South China Sea: U.S. and Australian Policies of Not Taking Sides"); Tiến-sĩ Sophie Boisseau du Rocher từ Pháp qua nói về "Tiềm-năng đóng góp của Liên-hiệp Âu-châu vào một giải-pháp hòa-bình ở Biển Đông" ("The EU's Potential Contribution to a Peaceful Solution in the South China Sea"); Tiến-sĩ Ota Fumio, một cựu-Phó-đề-đốc trong Hải-quân Nhật, ông căn-cứ vào một sự hiểu biết cặn kẽ về tư tưởng chiến-lược của Trung-hoa để mô-tả "Sự bành-trướng trên biển của Trung-quốc: Chiến-lược và các phản-biện-pháp" ("Chinese Maritime Expansion: Strategy and Counter-measures"); và cuối cùng là ông François-Xavier Bonnet, một nhà nghiên cứu người Pháp ở IRASEC (Institute on Contemporary Southeast Asia) trụ ở Bangkok, Thái-lan, ông bàn về vấn-đề "Khảo-cổ-học và Yêu nước: Những chiến-lược dài hạn của Trung-quốc trong Biển Nam-hải" ("Archeology and Patriotism: Long-term Chinese Strategies in the South China Sea").


Như vậy, ta có thể thấy là Hội-nghị Manila, hội-nghị đầu tiên với những đặc-trưng trên, nghĩa là không phải do nhà nước đỡ đầu hay chủ-trương (như phần lớn các hội-nghị về Biển Đông ở Việt-nam) mà là một sáng-kiến của các xã-hội dân-sự Phi-luật-tân và Việt-nam (cả trong lẫn ngoài nước), đã mang lại nhiều cách nhìn mới và gợi ý có thẻ dẫn đến việc xét lại toàn-bộ vấn-đề tranh chấp lãnh-hải ở Biển Đông và dám tới được một vài cách tiếp-cận hòa-bình nhằm giải-quyết những tranh chấp đó.

Bởi giờ đây là đã hơi quá muộn để cho thế-giới quay về chú ý đến khu-vực này, một vùng biển then chốt liên-hệ đến lợi ích của rất nhiều quốc gia, nhằm tìm ra những giải-pháp bền vững cho một vấn-đề mà có thể nổ tung thành chiến-tranh bất cứ lúc nào.

Cuối ngày, một bản tuyên-cáo chung đã được thông qua và ký bởi ông Roilo Golez thay cho nhóm Phi-luật-tân và ông Nguyễn Ngọc Bích, ký thay cho ông Lâm Đăng Châu, đại diện Họp Mặt Dân Chủ. Bản tuyên-cáo chung gồm năm điểm hành-động và khuyến-cáo như sau:

1/ "Đề nghị đổi tên của vùng biển này [thường được gọi bằng nhiều tên như 'Biển Nam-hải,' 'Biển Đông,' 'Biển Tây-Phi-líp-pin' v.v.] thành 'Biển Đông-Nam-Á'"(1) nên được tiếp-tục nghiên cứu.

2/ Kêu gọi Trung-quốc phải "ngưng tức-khắc những vụ bồi đắp đảo, xây dựng kiến-trúc, hay những hoạt-động khác trên mọi đảo bãi và rạn san-hô [trong Biển Đông] cho đến khi một Bộ Quy-tắc Ứng-xử được mọi các bên liên-hệ đồng-ý."

3/ Ủng-hộ "việc thành-lập một ủy-hội quốc-tế độc-lập với khả-năng dàn xếp các vụ tranh chấp qua thương-thảo trước khi đạt tới được đồng-thuận về một Bộ Quy-tắc Ứng-xử."

4/ "Trong khi chờ đợi, hai chính-phủ Việt-nam và Phi-líp-pin có những cuộc thảo-luận nhằm tiến tới một tạm-ước giải-quyết các tranh chấp giữa hai nước cũng như khai-thác chung những tài-nguyên mang lợi-ích đến cho hai bên."

5/ Và cuối cùng là "các đồng-tổ-chức [bảo trợ Hội-nghị Manila] đồng-ý việc dựng lên một Ban Công-tác chung của các Xã-hội Dân-sự Việt-Phi nhằm tổ-chức những sinh-hoạt ương-tự trong tương-lai nhằm phát huy những hiểu biết về vấn-đề và cung-cấp một diễn-đàn cho nhân-dân các nước liên-hệ có tiếng nói trong câu chuyện này."

Hành-động ngay theo những khuyến-cáo này, Hội-nghị đã chỉ-định một số nhân-sự có mặt tham-gia vào Ban Công-tác chung.

* * *

Để lượng-định tầm quan-trọng của hội-nghị, không có gì rõ cho bằng xem chuyện gì đã xảy ra sau hội-nghị. Những ý-kiến, quan-niệm được trình bầy ở hội-nghị có được xem là có ý nghĩa hay không? Chúng có được tiếp nối đem ra bàn thảo không?

Về phương-diện này, ta có thể thấy là hội-nghị đã có một vài kết-quả được xem là khá tích-cực. Tỷ như Thạc-sĩ Hoàng Việt, sau khi ông trở về Việt-nam, đã được hỏi về những đòi hỏi chủ-quyền của Hà-nội và Sài-gòn đối với hai quần-đảo Trường-sa và Hoàng-sa. Ông trả lời liền: "Dù là Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa [tức Hà-nội] hay Việt-nam Cộng-hòa [tức Sài-gòn] thì cũng vẫn là Việt-nam," có nghĩa là những đòi hỏi chủ-quyền của VNCH cũng có giá-trị bằng (nếu không muốn nói là hơn) những đòi hỏi chủ-quyền của Hà-nội.

Vào ngày 24 tháng Tư 2015, bài trình bầy của ông François-Xavier Bonnet tại Hội-nghị Manila cũng đã được Quỳnh Anh dịch sang tiếng Việt và phổ-biến trên Vietnamnet. Rồi đến hôm 20 tháng Năm 2015, Tiến-sĩ Sophie Boisseau du Rocher lại có dịp trình bầy về vai trò của Liên-hiệp Âu-châu trong tranh chấp Biển Đông tại Viện Quan-hệ Quốc-tế của Pháp (tức Institut français des Relations internationales, thường được viết tắt là IFRI).

Như vậy là tuy các bài báo trong nước không ghi nhận xuất-xứ từ Hội-nghị Manila, chúng vẫn công-nhận tầm quan-trọng của các ý-kiến được đưa ra tại hội-nghị hay của các bài trình bầy nói trên.

Tưởng cũng phải nói là Hội-nghị Manila đã xảy ra đúng lúc trong khi tình-hình ở Biển Đông ngày càng sôi nổi. Bởi sau hội-nghị này ta thấy liên-tiếp nhiều hội-nghị quốc-tế về Biển Đông được tổ-chức ở những thành-phố lớn trên thế-giới: như Hội-nghị ngày 4/5 ở New York (do Journal of Political Risk tổ-chức), Hội-nghị ngày 20/5 ở Buenos Aires, A-căn-đình, Hội-nghị cùng ngày 20/5 do Viện Quan-hệ quốc-tế Hoàng-gia Egmont tổ-chức ở Bruxelles, Bỉ, Hội-nghị ngày 25/5 do CSIS (Center for Strategic International Studies, Trung-tâm Nghiên cứu Quốc-tế Chiến-lược) tổ-chức ở Washington, DC, và nhất là Hội-nghị 5 ngày (từ 25 đến 29/5) tại Đà-nẵng giữa các chuyên-gia về an-ninh quốc-phòng của Hoa-kỳ với sự tham gia của 80 đại biểu đến từ 10 quốc gia ASEAN, Ban Thư ký ASEAN và các nước Australia, NewZealand, Nhật Bản và Mông Cổ.
___________

(1) Quan-niệm này, quan-niệm là ta nên tránh sự hiểu lầm hay lẫn lộn giữa các tên gọi khác nhau của cùng một vùng biển, đã được một số học-giả Việt-nam đề nghị cách đây một số năm. Trong phần phụ-lục của Kỷ-yếu về Hội-nghị Manila sẽ in lại một bài trình bầy vấn-đề của sử-gia Phạm Cao Dương. Sau đó, tổ-chức Nguyễn Thái Học Foundation (trụ-sở ở Irvine, California) đã đưa một kiến-nghị lên trang mạng Petition-on-line mà cho đến gần đây đã thu thập được 72.840 chữ ký đến từ hơn 100 quốc gia trên thế-giới. Mặc dầu không có đại-biểu nào đến được Hội-nghị Manila từ Nguyễn Thái Học Foundation song tổ-chức này cũng đã có thư ủng-hộ hội-nghị và chúc hội-nghị thành công.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.