Hôm nay,  

Đời Bất Công

14/02/201500:00:00(Xem: 13524)
Đểu Thật! Thượng Đế Chia Bài Không Đều!

Mỗi lần ăn Tết, ta lại nhớ đến một biến cố hào hùng của dân tộc. Không! Không phải trận Mậu Thân điếm nhục năm 1968 đâu. Chiến thắng Đống Đa vào mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 mới làm dân ta sảng khoái. Trong có năm ngày, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đại phá quân Thanh qua những trận đánh long trời lở đất.

Nhưng vì sao đúng 70 năm sau, nước ta không thể cưỡng lại áp lực quân sự của thực dân, khi pháo hạm Pháp nã đạn vào Đà Nẵng? Sau đó, trong 24 năm, Pháp đánh đâu được đấy, với lực lượng vỏn vẹn có vài trăm binh lính? Vì hỏa lực, võ khí? Thế thì vì sao hỏa lực và võ khi của ta lại không được cải tiến trong 70 năm từ 1789 đến 1859?

Vì cái đầu!

Chuyện lịch sử ấy dẫn ta về địa dư. Diện tích Việt Nam chỉ thua diện tích lãnh thổ Nhật có gần 50 ngàn cây số vuông mà trù phú hơn nhiều. Và nay lại còn có dầu hỏa! Thế thì vì sao Việt Nam lại thua Nhật Bản đến cả thế kỷ dù đã "anh hùng đánh thắng mọi đế quốc đầu xỏ" như lời của những kẻ tự mã nông cạn? Cũng vì cái đầu.

Chuyện dân trí ấy dẫn ta về kinh tế. Những nhà kinh tế có từ tâm mà thiếu trí thường than phiền tình trạng bất công trong dị biệt về tài sản và lợi tức. Tài sản là những gì ta có – sau khi trừ bớt nợ nần. Lợi tức là những gì ta kiếm ra trong một thời khoảng nhất định – sau khi trừ bớt chi phí cho sản xuất.

Các nhà kinh tế này thiếu trí vì quên lịch sử mà cũng chẳng nhìn vào địa dư.

Trong lịch sử, có nhiều quốc gia từng là giàu có nhờ tài sản trời cho mà rồi tự biến ra lụn bại. Argentina là một thí dụ, vì mới chỉ trăm năm trước thôi còn là một trong 10 nước giàu nhất thế giới, hơn Đức rất xa. Ngày nay thì mấp mé vỡ nợ. Trong lịch sử xa xôi hơn, Trung Quốc từng là cường quốc làm Âu Châu thèm thuồng theo lời tường thuật đầy thán phục của các giáo sĩ Dòng Tên. Vậy mà về sau lụn bại dần khi Âu Châu đã trải qua nhiều cuộc cách mạng về văn hóa, tôn giáo, chính trị và kỹ thuật. Lụn bại đến độ bị Âu Châu chinh phục. Rồi bị Nhật Bản khuất phục đúng 120 năm về trước, vào một năm Ất Mùi?

Nếu nhìn vào địa dư, các nhà kinh tế cũng nên tự hỏi là vì sao Singapore chỉ là một hải cảng đang phải nhập cảng nước ngọt để sống mà người dân lại có tài sản trung bình thuộc loại cao nhất thế giới? Và họ lại không nhổ bậy như người Tầu! Vì cái đầu?

Thật ra, thế giới này có rất nhiều bất công.

Trên đại lục Âu-Á, trải từ miền Tây nước Pháp qua đến Viễn Đông, Liên bang Nga có lãnh thổ rộng lớn nhất và thuộc loại giàu tài nguyên nhất. Nhưng mức sống người dân vẫn thua các nước ở miền Tây, là những quốc gia bán đảo hay quần đảo từ Bắc Âu xuống Tây Âu đến Địa Trung Hải.

Khu vực tạm gọi là miền Tây của đại lục Âu-Á có bờ biển dài hơn cả lục địa Phi Châu, là hòn đảo vĩ đại rộng gấp đôi lãnh thổ Âu Châu! Hơn 500 năm trước, từ bán đảo Iberian, hai nước Âu Châu là Bồ Đào Nha rồi Tây Ban Nha đã dong buồm thám hiểm và tìm tới Châu Phi rồi Trung Nam Mỹ. Và đem về rất nhiều của cải! Bất công thật....

Nhưng ngần ấy khu vực Âu Châu hay Phi Châu, hoặc cả Châu Á bát ngát, chẳng xứ nào có lãnh thổ vuông vức và hệ thống sông ngòi liền lạc như Hoa Kỳ tại Bắc Mỹ. Thượng đế chia bài không đều tay nên có nước hay sắc dân được hưởng những điều kiện thiên nhiên - trước tiên là địa dư hình thể - thuận tiện hơn người khác.

Gặp điều kiện bất lợi, như quần đảo Nhật Bản với bốn đảo lớn và trăm ngàn chướng ngại bên trong, chưa kể tới núi lửa, động đất hay sóng thần, thì người dân mới sử dụng đến cái đầu.

Nó khởi đi từ ý chí cả thắng thiên nhiên bằng khoa học và tổ chức, hơn là nhờ tài ăn vạ. Người Nhật không hề ăn vạ Thượng đế hay Thái dương Thần nữ, họ coi đó là một thử thách của đấng siêu hình và nhìn thiên nhiên hay vật chất hữu hình là bài toán của khoa học mà thần dân phải giải quyết lấy! Bên cạnh đó, Đại Hàn còn xác xơ hơn cũng có ý chí tương tự.

Nếu người dân của hai xứ này lại có lãnh thổ trù phú như miền Nam Trung Hoa, hay châu thổ sông Cửu Long, có khi họ lại... phè ra như người Lào?

Ccác nhà kinh tế có từ tâm mà cứ nói đến chuyện bất công về tài sản hay lợi tức cần châm thêm một yếu tố bất công khác, là cái đầu. Hoặc nói theo thuật ngữ kinh tế là "tư bản nhân lực" - human capital. Và phải gia giảm bằng yếu tố tinh thần là tính ăn vạ và ỷ lại.

Một quốc gia ăn vạ thì thường quốc hữu hóa doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn trong lãnh thổ của mình, rồi biến nhà máy thành thép rỉ. Hãy hỏi lãnh đạo xứ Venezuela thì biết. Ngay trong nước Mỹ, nơi mà cuộc tranh luận về bất công đang là thời thượng, chương trình xoá đói giảm nghèo cho người da đen từ thời Lyndon Johnson lại khiến thành phần thiểu số này càng sa sút nếu so với các thành phần khác. Mà dù có sa sút thì vẫn còn hơn người da đen tại Châu Phi.

Trở lại chuyện Đống Đa 1789 hay Đà Nẵng 1859 của ta, thì ngoài cái nạn bất công về hỏa lực, võ khí, hay kỹ thuật, có một yếu tố khác cũng cần được xét đến khi ta nhớ đến vài hiện tượng tương tự của xứ khác: sự bất công đã có từ trước khi ta bị nã đạn!

Năm 1519, Hầu tước Hernán Cortés của xứ Tây Ban Nha cầm đầu một hải đội có 500 binh lính chinh phục cả xứ Mễ Tây Cơ khi đánh bại Đế quốc Aztec rất hùng mạnh ở tại đó. Tay Conquistador này thành công không vì có loại võ khí sát thương tối tân hơn cung tên dáo mác của người bản xứ tại kinh đô Tecnochtilán – nay thuộc khu vực Thủ đô Mexico City của Mễ.

Mấy trăm tay súng không thể diệt nổi vạn quân Aztec trong vùng đất lạ lần đầu tiên dân Âu Châu đặt chân tới. Ông ta sử dụng cái đầu.

Tại đây, dân Aztec mới chỉ làm chủ được có gần trăm năm trên khu vực sinh sống của dân Maya và nhiều thị tộc khác. Nạn bất công đã có từ trước và chính quyền Aztec tại Tecnochtilán không hoàn toàn kiểm soát được lãnh thổ khiến Cortés bèn áp dụng giải pháp ngoại giao: huy động các sắc tộc nạn nhân của dân Aztec làm đồng minh!

Thời Tự Đức của nước ta hình như cũng có bất công, khiến giặc giã nổi như ong.

Nhiều thành phần bị ngược đãi, kể cả người Công giáo, đã chẳng gia nhập các phong trào Văn Thân hay Cần Vương. Bậc anh hùng như Phan Đình Phùng có thể đã thất bại chính vì cảng hiệu "Bình Tây Sát Tả": đẩy người Việt về phía bên kia. Nhà luân lý có thể kết án nạn "bồi Tây" hay "phản quốc" thì chẳng giải quyết được một vấn đề, là vì sao dân ta không sát cánh cùng nhau? Vì sao triều đình không sớm nghe lời một bậc đại trí Công giáo là Nguyễn Trường Tộ?

Chẳng thể đơn giản nói rằng dân ta không yêu nước mà nên tự hỏi là vì sao triều đình không làm toàn dân đồng lòng dốc trí chống giặc?

Thiên hà ngôn tai, Thượng đế chẳng nói gì cả. Chúng ta có quyền tự do tìm ra câu hỏi đúng, may ra thì có giải pháp thích hợp cho một hiện tại đầy bất công của Việt Nam. Cận Tết rồi, xin chỉ mạn đàm đến đó thôi!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.