Hôm nay,  

Đường Xưa Hồn Thu Thảo

30/08/201400:00:00(Xem: 4021)
Như em, anh đã đi qua nhiều con đường. Những con đường ngợp bóng lá. Những con đường với hàng cây cao hay thấp cũng làm chao lòng kẻ dạ hành, nhất lại là trong đêm trăng sáng. Trăng sáng và cõi tịch liêu của đêm làm xôn xao những cảm giác lâng lâng như triều lên trong dòng máu lãng du chưa tìm ra cội nguồn để về cùng trái tim mệt mỏi. Và anh cứ ngập ngụa trong ánh sáng bạc ấy, trên con đường đêm hoài niệm.

Nhớ! Thì nhớ nhiều nơi. Nhớ con đường có hàng cây dầu cao, xuôi cầu vồng về bến phà An Hải. Con đường thơm những nhánh hoàng lan từ vườn nhà ai kín cổng cao tường. Và mái tóc em còn vương tiếng nhạc của Scorpion từ quán cà phê Thìn cũ kỹ. Vỉa hè rộng lắm để thênh thang những gót chân khuya và đếm những cánh dầu rơi xoáy trong đêm thầm thì, thầm thì như tiếng em lời hờn dỗi vô cớ…Lại nhớ những hàng me đường Nguyễn Du. Khi gió khuya về rung những cánh lá nhỏ như mưa. Và những vỉa hè rộng để thấy lòng trống vắng khi tiếng guốc em gõ lên mặt đường làm khuấy động trái tim buồn. Chênh chao câu hát Boulervard của Dan Byrd:

Never knew that it would go so far
When you left me on that boulevard

Có lẽ đến bây giờ anh vẫn không hiểu vì sao mọi chuyện đã xa xăm như thế. Khi anh cất bước ra đi theo dòng đời, rồi trôi mãi đến nửa vòng trái đất. Vỉa hè của đại lộ xưa có còn vang vọng tiếng chân ai một mình…

Ngày ấy anh còn nhớ một đoạn thoại đầu cho ca khúc Hướng về Hà Nội. Thật lắng đọng như tiếng guốc em âm vang cuối con đường ngập lá kỷ niệm của ký ức muôn trùng:

Anh đâu ngờ anh vẫn còn nghe vang tiếng em, trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của những ngày sung sướng đó! Tiếng gió heo may trên những cành liểu nhỏ, tiếng giọt sương rớt trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố…ngần ấy những tiếng động cứ ngân nga mãi trong trí tưởng anh. Một thuở thanh bình nào đó. Bây giờ đã gần im hơi. Nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức, làm ngân lên trong ký ức, một mùa hè háo hức, một đêm mưa vụng trở về. Gió cuốn từng cơn nhớ. Anh bổng nhận ra rằng: Anh vẫn còn yêu em. Giữa chúng ta đã xa nhau như hai thành phố.

(Có lẽ đã hơn 30 năm để nhớ trọn đoản văn ấy…Cũ kỹ như cuốn băng nhựa cassette giờ đã nằm khuất phủ bụi quên lãng thời gian và có lẽ không bao giờ được dùng lại.)

Đà Lạt với những cơn mưa hạ đưa gió về lao xao nhành liểu rũ ven hồ. Những âm thanh ngọt ngào như giai điệu của mùa tình chín rục. Tiếng gió khuya hiu hắt lạnh, tiếng giọt sương thảng thốt rơi trên mặt hồ Xuân Hương, tiếng rêu buồn trở mình già cổi trên mái ngói dinh thự cũ và tiếng gót khuya em vang động góc khu chợ Hòa Bình. Phải có một sự yên tỉnh đến cô đơn tê tái để nghe vang tiếng guốc em ngày ấy. Tiếng guốc dội vào lề đường lót đá khô khốc, tiếng guốc chạy xuôi theo con đường lên xuống phố chợ, âm vang trong từng ngõ hẹp nhỏ của phố núi, tiếng guốc theo những viên sỏi nhỏ đau lòng lăn xuống triền dốc tâm hồn như tiếng lăn trầm…

Trời bữa đó không nói gì không nói
Một chút gì xưa đã nói miên man (Bùi Giáng)

blank
Hồn thu thảo.

Phải chăng em! Chúng mình đã hằng giờ đi bên nhau trong thinh lặng như thế. Vẫn tay trong tay và nghe lời nói thật thừa thải. Ngôn ngữ của tình mình không tìm thấy trên bờ môi, mà đầy trong mắt ướt. Đôi mắt của em đen nhánh như đêm và hàng mi là hai hàng cây soi bóng một lối tình ảo mộng dằng co. Anh đã ngụp lặn trong đáy mắt kia mấy mùa tình lụy.

Rồi lại nhớ con đường Cừa ven sông Tam Kỳ với những nhành hoa sưa vàng rực chiều tà. Những hàng cừa thân già nua như chưa bao giờ biết tuổi, giữ lấy đường đất ven sông mấp mô. Những thân cừa già cỗi và hoa sưa vàng rực trải lối đi. Man man ký ức về những người con gái đẹp nức nở ở nơi này, nơi thành phố nhỏ như lòng bàn tay, mọi người đều quen tên, nơi đầu phố là ngôi chùa và cuối phố là nhà thờ với con đường Phan Châu Trinh nhộn nhịp.

Những con đường chúng mình đi qua, như những cuộc tình đi qua chúng mình, không hề giống nhau. Mỗi con đường như mỗi người con gái với những nét riêng làm trái tim sai nhịp hối hả. Mà âm vang tiếng gót chân là giai điệu của những lời ru xưa đầy ngãi đắng. Thấm vào lòng đường những nhịp tình đau với lá mục rêu buồn.

Những con đường ven hồ Xuân Hương hay quanh co phố núi, những con đường với vỉa hè thênh thang ở Sài Gòn, những con đường thơm hương đêm ở Đà Nẳng, những con đường quê ven sông ở Tam Kỳ cũng không làm sao chao nghiêng nỗi nhớ và ngất ngây hoài niệm bằng con đường ở Thành Nội. Đường Đoàn Thị Điểm với hàng phượng và muối, nhốt kín gió ngây thơ và tuổi mới lớn xanh lòng. Con đường không dài rộng để thấy lòng tản mát. Con đường với hàng cây không cao quá để thấy mình nhỏ nhoi, con đường không ngắn quá để hụt hẩng những bước chân hẹn hò chưa kịp thốt lời tỏ tình, con đường không quá dài để đôi chân em gót mềm thôi rụt rè ngần ngại. Những hàng cây đứng sát vào nhau như anh cần em. Trên cao dày đặc tán lá như chiếc dù lớn chạy suốt con đường. Con đường ngày ấy không có vỉa hè nên chúng mình cứ lang thang giửa lòng đường.


Nếu trường Đồng Khánh và Quốc Học có con đường Nguyễn Trường Tộ nằm giữa, làm chứng nhân cho những chuyện tình học trò thơm thảo, thẹn thùng nhìn nhau qua khung cửa lớp học và hai dãy thành tường vôi. Thì con đường Đoàn Thị Điểm là chiếc cầu nối hẹn hò tháng năm cho đời học sinh của trai Hàm Nghi và Nữ Thành Nội. Con đường có hồ sen tỏa hương tháng Tư, có phượng đỏ tháng Năm. Có rêu phong thành cổ quanh năm và trầm hương thoang thoảng đêm rằm. Những đêm trăng rằm thật sáng soi rõ những viên ngói trên Hoàng Thành mà con đường thì thâm u bóng đêm bởi tán lá đan vòm trên cao. Ánh đèn vàng thì thưa thớt, hắt hiu như đồng lõa với bóng tối, làm giấu đi nét thẹn thùng má đỏ của em và đôi tay run rẫy của anh. Những góc khuất đầy bóng đêm của đường Lê Trực trước Cổ Tàng Viện. Tối lắm để chúng mình can đảm trao nhau chút gần gủi thịt da nóng bỏng bồi hồi. Tối lắm để chúng mình mù lòa yêu nhau qua những ngón tay tinh nghịch, khám phá vùng khát vọng hân hoan… Thi thoảng vài ánh đèn xe quét qua những gốc cây giấu kín đôi nhân tình, chấp chới nhân ảnh buông rời nhau rồi hòa nhập lại. Có tiếng cười khúc khích trong vòm cây. Có tiếng chim vỗ cánh rã rời trong đêm. Và có tiếng thở dài trách móc cho một cuộc tình vô vọng…

Qua rồi thời trung học thì con đường Đoàn Thị Điểm lại ngập tràn những kỷ niệm dấu yêu của những tiếng đàn piano, những tiếng hát, tiếng violon của các cô bé trường Âm Nhạc. Những nét phù điêu, những mảng cọ tang bồng của các lãng tử trường Mỹ Thuật. Qua cửa Hiển Nhơn bọn học trò đi về hai hướng để làm rong rêu một đời phiêu lãng mai sau…Làm sao quên một đêm đông rét mướt, tay cầm ổ bánh mì giòn tẩm đường của Bà Dì ngã tư Nhật Lệ, ngồi trên lầu Ngọ Môn chúng mình nhìn qua bên kia sông những ánh trăng khuya và nghe vụn vỡ trên môi điều thực tại. Làm sao quên được ly cà phê Tôn ấm nóng một khuya mùa trăng úa. Làm sao phai nhạt vị ngọt ngào chiếc bánh thuẩn mẹ làm và tách trà Mai Hạc những mùa trăng tháng tám.

Con đường này giờ đã thành đường một chiều. Một chiều từ ngoài thành vào nội. Chúng mình chỉ có thể đi từ cửa Ngăn, cửa Thượng Tứ mà vào. Trường cũ Hàm Nghi không còn để chàng trai theo người nữ đến lớp. Những chiếc xe đạp mang tà áo trắng của trường Nữ Thành Nội (giờ là Nguyễn Huệ) vẫn còn tung tăng những vòng quay. Như đàn bướm trắng, chúng vô tư thả bộ đi về giửa lòng đường, rộn ràng giờ tan tầm những mô tê răng rứa đến dị òm…

Tiếng nhạc và nét cọ vẽ phong trần ngày nọ giờ đã vắng thưa qua cửa Hiển Nhơn, chỉ còn hai con lân đá đứng yên làm chứng nhân buồn hiu cho những biển dâu năm tháng. Còn đâu dáng Phương đứng trần truồng làm mẫu khi lò than dưới chân không đủ sưởi ấm một mùa đông phong trần nhiều khổ lụy. Tôn Nhơn Phủ đã thành nền gạch hoang cho cỏ nội nuối tiếc thuở vàng son. Hình như em cũng không còn đó để cùng anh đi về trên con đường đẹp. Định mệnh đã đưa chúng mình đi xa như chiếc lá xa mùa, không bao giờ còn níu trên nhánh đời vỡ vụn những cành khô. Biển đã thành nương dâu. Em đã rời cố quận. Và anh đã lăn lóc cuối chân sóng sa mù. Biết bao giờ châu lại về hợp phố.

Chúng ta đã xa nhau như hai thành phố. Không có con đường nào để nối lại những điều vui, khi nghìn trùng đã cách chia tao ngộ. Không có vỉa hè nào để nâng gót chân em khi chiều xuống, khi ta không còn của nhau. Lối xưa còn đó nhưng ngựa xe đà vắng bóng trong hồn thu thảo. Thềm cũ lâu đài còn trơ bóng tịch dương với tuế nguyệt đến bao giờ. Sự đổi thay nào cũng đi kèm mất mát. Và chấp nhận những cái mới lạ thiếu vắng một chút tình hoài cổ không phải dễ dàng. Có những mất mát không bao giờ hàn gắn lại. Có những đập vỡ không bao giờ xây dựng lại trong ngàn sau tiếc nuối muôn trùng. Cuộc di dời nào cũng bật gốc những cội nguồn như nhất. Em đừng trách số phận mà hảy hỏi lòng với thiên thu…

May thay hàng cây phượng và muối đó hình như không có tuổi. Bao cuộc chiến tã tơi, bao giông bão đi qua vẫn còn xanh những chồi non khát vọng và hoa phượng đỏ vẫn trải lòng mỗi mùa hạ trắng. Vỉa hè nay rộng hơn dẫu vắng xa tiếng gót khuya. Hoa trăng vẫn ngập tràn đêm nguyệt cầm. Và tiếng hát xa xăm Boulervard vẫn lay bay trên con đường phượng bay trong ký ức miệt mài. Ký ức hao mòn và cũ kỹ như rong rêu trên dãy thành cổ của tâm hồn già cỗi chúng mình.

Những rong rêu mang nặng hồn thu thảo,
nhớ con đường hàng muối, phượng bay.

Như anh nhớ em và tiếng guốc khuya. Nhớ đến chao lòng.

SB. Tháng tám, 2014

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.