Hôm nay,  

Tại Sao CSVN Không Dám Kiện TC Ra Trước Tòa Án Quốc Tế?

6/21/201400:00:00(View: 6945)
Cuối tháng 5-2014 vừa qua, trong chuyến công du Philippines, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có thể kiện Trung Cộng ra trước toà án quốc tế. Nhiều người thiện chí mừng rỡ ra mặt qua những bài viết trên mạng. Nhưng sau đó dường như mọi chuyện xảy ra như chưa hề có lời tuyên bố ấy. Những ai có kinh nghiệm về cộng sản, đặc biệt kinh nghiệm về những lời tuyên bố trang trọng của Nguyễn Tấn Dũng, nghe xong đều bỏ ngoài tai như những lời của trẻ con hay của "thằng Cuội" trong truyện cổ tích.

Những người tin rằng CSVN đã ký kết những mật ước bán nước để đổi lấy sự bảo trợ của ngoại bang cho độc quyền cai trị của họ có thể quả quyết: chẳng đời nào CSVN dám kiện Trung Cộng về vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả những tuyên bố phản đối Trung Cộng có vẻ mạnh bạo của các lãnh đạo CSVN đều chỉ là đóng kịch hầu làm yên lòng dân chúng thôi. Vì hiện nay lòng dân đang hết sức hoang mang lo lắng vì nghi ngờ rằng những mật ước mà Trung cộng và CSVN đã lén lút ký kết với nhau sẽ hết sức bất lợi cho vận mạng và sự sống còn của dân tộc. Nếu những mật ước này được chính thức tiết lộ và người dân bất ngờ biết được rõ ràng không thể chối cãi về dã tâm bán nước của đảng CSVN, thì sự phẫn nộ của người dân sẽ vọt lên cao độ có thể nổ ra những cuộc biểu tình bạo động của toàn dân ở khắp đất nước. Lúc ấy chế độ cộng sản chắc chắn sẽ sụp đổ.

Lúc ấy, với thể chế mới nghiêng về tự do dân chủ, số phận của đảng và của những người lãnh đạo đảng sẽ hết sức bi đát, và mộng thôn tính Việt Nam hay mộng biến Việt Nam thành “sân sau” của Trung cộng cũng tan thành mây khói. Chính vì thế, cả CSVN lẫn Trung cộng đều vì quyền lợi của mình mà cùng cam kết giữ bí mật những mật ước ấy cho đến thời điểm mà việc “bật mí” không còn gây nên bất lợi cho đôi bên nữa.

Mặc dù nếu kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế, CSVN chắc chắn sẽ thắng, vì những bằng chứng lịch sử của Việt Nam về chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã hết sức rõ ràng không thể chối cãi. Trong khi đó, lý chứng của Trung cộng về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này rất yếu. Nếu lý chứng của Trung cộng mạnh và nếu họ nắm chắc phần thắng thì chắc chắn 100% họ sẽ không đe dọa hầu ngăn cản CSVN kiện họ ra tòa án quốc tế. Vì thế, nếu CSVN có can đảm kiện Trung cộng, phần thắng chắc chắn nằm về phía Việt Nam.

Về phía Trung cộng, ngày 8-6-2014, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố 5 sự kiện chứng tỏ CSVN đã công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. 5 sự kiện đó gồm:

1. Lời của Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao và của Lê Lộc, Trưởng Vụ Á châu thuộc Ngoại giao CSVN thời Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 16-5-1956 khi tiếp Lý Chí Dân, đại diện Sứ quán Trung cộng tại Hà Nội, công nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”, thậm chí “thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống”.

2. Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 mặc nhiên công nhận hai quần đảo trên thuộc Trung Quốc.

3. Tuyên bố của CSVN thời Hồ Chí Minh ngày 9-5-1965 về việc quân Mỹ lập khu tác chiến ở Việt Nam cũng có đoạn công nhận “một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa là của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”

4. Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng CSVN vào năm 1972 có ấn hành Tập Bản đồ thế giới không ghi tên hai quần đảo quần đảo trên là Hoàng Sa và Trường Sa mà lại ghi là Tây Sa và Nam Sa, là tên do Trung Quốc đặt.

5. Nhà xuất bàn Giáo Dục, Hà Nội đã xuất bản sách Địa lý lớp chín năm 1974 có đoạn viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc.”

Những bằng chứng kể trên của Trung cộng có giá trị pháp lý rất yếu so với những bằng chứng mà CSVN có thể đưa ra. Nếu Trung cộng chỉ đưa ra được một vài lời của cá nhân ông nọ ông kia thuộc chế độ CSVN −một chế độ không có tự do ngôn luận− công nhận hai quần đảo đó là của Trung cộng, thì để đối đáp lại, CSVN có thể trưng ra biết bao lời của những người có uy tín thuộc chế độ VNCH −một chế độ mà người dân có quyền tự do ngôn luận− công nhận ngược lại. Đó là chưa kể những văn bản và bản đồ trong lịch sử của Việt Nam, của Trung cộng và của thế giới làm chứng cho Việt Nam. Những bằng chứng kể trên của Trung cộng tuy hết sức rẻ tiền nhưng lại làm cho CSVN rất nhột, khiến CSVN rất e dè không dám mạnh dạn kiện Trung cộng. Tại sao vậy?

Hiện nay, ai cũng biết là hai đảng Cộng sản, Trung cộng và Việt cộng, đã từng lén lút ký kết với nhau những mật ước mà vì quyền lợi chung của cả hai bên, nên cả hai đều hết sức giữ bí mật như đã cam kết. Tại sao lại phải giữ bí mật, nếu không phải là một chuyện mờ ám? Người dân có thể đoán được lý do là những mật ước này chắc chắn có lợi cho tham vọng “độc quyền trường trị Việt Nam” của đảng CSVN nhưng hết sức bất lợi cho quốc gia và dân tộc Việt Nam. Nội dung những mật ước này cho tới nay chỉ có Bộ Chính Trị biết với nhau, còn người dân chỉ nhận được những thông tin rò rỉ không chính thức nên chưa ai dám quả quyết điều gì. Tuy nhiên, trong quá khứ, rất nhiều thông tin bị rò rỉ, ban đầu không ai dám quả quyết, nhưng cuối cùng mọi người đều biết đó là sự thật ([1]).

Theo tác giả Trần Gia Phụng (một sử gia ở Canada), thì Trung Quốc công bố 5 bằng chứng trên theo một kế hoạch từng bước, rất lớp lang ([2]).

Bước 1: Công hàm Phạm Văn Đồng được đưa ra sau khi giàn khoan 981 bị dân chúng Việt Nam biểu tình chống đối dữ dội và bị CSVN lên tiếng phản đối (tương đối mạnh mẽ hơn bao giờ hết, mặc dù vẫn còn rất yếu so với mức độ hợp lý phải làm). Công hàm ấy được đưa ra vào thời điểm này có tác dụng khiến CSVN lo sợ nên đã ra lệnh cấm dân chúng biểu tình chống Trung Quốc.

Hành động cấm đoán này khiến người dân phẫn nộ chống luôn cả CSVN. Vì qua hành động cấm đoán này, người dân thấy được bộ mặt thật của CSVN là đồng lõa tiếp tay với Trung cộng. Nước mất tới nơi, kẻ thù đã vào tận nhà, thế mà đảng và nhà nước cầm quyền đã không làm gì đủ mạnh để chống lại, lại còn cấm người dân phản đối thì rõ ràng là tiếp tay giúp kẻ thù rồi còn gì nữa? Để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng khi công du Philippines đã lên tiếng sẽ kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế.


Bước 2: Vụ sách giáo khoa lớp 9 được đưa ra sau lời tuyên bố sẽ kiện Trung cộng của Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines.

Lúc này người dân thấy rõ lãnh đạo CSVN đang ở trong thế “trên đe dưới búa” giữa Trung cộng và người dân trong nước. Vì thế phải làm sao xoa dịu được sự phẫn nộ của cả hai phía. Điều này quả là nan giải, vì hễ xoa bên này thì sẽ làm bên kia phẫn nộ và ngược lại. Nên lãnh đạo CSVN cứ phải “đu giây” giữa hai thế lực này để tồn tại. Do đó, mọi hành động của CSVN trong giai đoạn này hoàn toàn là chỉ để đối phó sao cho xong chuyện, sao cho chế độ có thể tồn tại được. Mọi cách lừa bịp, đóng kịch, giả bộ… đều có thể sử dụng.

Bước 3: Trung cộng đưa ra cùng một lúc năm bằng chứng kể trên để buộc CSVN phải nhượng bộ Trung cộng nhiều hơn.

Đặc điểm của những bằng chứng trên không có giá trị pháp lý trước tòa án quốc tế, nhưng có giá trị đe dọa rất lớn đối với giới lãnh đạo CSVN, vì nó giúp người dân Việt trong nước cũng như hải ngoại từ từ thấy được ngày càng rõ ràng và chắc chắn bộ mặt thật sự bán nước của CSVN. Đây là điều mà CSVN muốn che dấu với bất cứ giá nào, nhưng không ngờ Trung cộng lại đang dần dần “bật mí” từng bước một. Chắc chắn Trung cộng sẽ tiếp tục “bật mí” nếu CSVN hành động bất lợi cho Trung cộng. Điều này khiến CSVN vô cùng lo sợ.

Ba bước trên được thực hiện rất tiệm tiến, từng bước một, là một thông điệp mà Trung cộng muốn nhắn nhủ CSVN: 5 bằng chứng trên chưa phải là hết, vì sẽ còn những bằng chứng khác mạnh mẽ hơn nhiều. Người dân trong nước khi biết chắc chắn những bằng chứng ấy là sự thật sẽ phải “ngã ngửa” và “bừng bừng nổi giận”. Nếu CSVN quyết ăn thua với Trung cộng, chẳng hạn, kiện Trung cộng trước quốc tế, hoặc đi với Mỹ để chống lại Trung cộng, hoặc phản đối Trung cộng một cách quyết liệt, khiến mộng thôn tính Việt Nam của Trung cộng hoàn toàn tan vỡ, thì Trung cộng sẽ có thái độ “phá thối”, “ăn không được, phá cho hôi”. Điều này đương nhiên xảy ra và quả rất dễ hiểu đối với những “tên điếm”, những chế độ “tiểu nhân tới mức tận cùng” như Trung cộng và Việt Nam.

Nếu người dân phẫn nộ đến mức nổi lên lật đổ chế độ CSVN và thiết lập chế độ tự do dân chủ thì Trung cộng sẽ không thôn tính được Việt Nam. Khi ấy Trung cộng chỉ bị hụt hẫng vì đã hy sinh tiền bạc, vũ khí giúp CSVN lên ngôi thống trị toàn Việt Nam mà kết cuộc chẳng được gì. Nhưng số phận những tên lãnh đạo CSVN chắc chắn sẽ không khác gì số phận những tên độc tài phản quốc như Gadhafi, Hussein, Honecker, Ceauşescu…

Chính vì thế, CSVN rất sợ, không dám làm gì mạnh tay đối với Trung cộng, không dám kiện Trung cộng trước tòa án quốc tế về vụ Trường Sa Hoàng Sa dù biết rằng hễ kiện thì sẽ thắng. CSVN rất sợ những gì sẽ xảy ra sau đó vì chắc chắn Trung cộng sẽ trả thù. Những kẻ tiểu nhân và hèn hạ đều biết chúng sẽ bị đồng bọn đối xử với chúng ra sao khi chúng phản bội.

Hiện nay, trong tình trạng “trên đe dưới búa” của CSVN, lối thoát duy nhất và khôn ngoan nhất của họ bây giờ là “đái công chuộc tội” bằng cách trở về với quốc gia dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của đảng, của gia đình cũng như của cá nhân mình. Họ hãy kịp thời chủ động chuyển đất nước sang thể chế dân chủ tương tự như Miến Điện đã làm. Hãy trả tự do cho những người yêu nước đang bị cầm tù hay quản chế, và mời những người yêu nước thương dân và có tài để cùng với họ chuyển hóa đất nước sang thể chế dân chủ thật sự.

Người Việt là một dân tộc rất sùng đạo, nói chung, họ đã thấm nhuần tinh thần đạo đức của các tôn giáo lớn, chắc chắn họ sẵn sàng tha thứ cho những kẻ lầm lỗi biết trở về đường ngay nẻo chính bằng những hành động “đái tội lập công” cụ thể. Đó chính là con đường duy nhất để đảng CSVN có thể cứu nguy dân tộc đồng thời tự cứu lấy mình.

Với thể chế dân chủ đích thực, chính quyền mới sẽ hành động tương tự chính phủ Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến Nam Bắc phân tranh, hay như chính phủ Đức sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất. Sẽ không có những trại học tập cải tạo dã man và bỉ ổi như CSVN đã làm đối với quân cán chính VNCH. Những kẻ “đái tội lập công” sẽ được tha thứ và tôn vinh.

Một mình đảng CSVN chắc chắn 100% không thể cưỡng lại được tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán. Nhưng một khi quyền điều hành đất nước được trao lại cho toàn dân, thì chắc chắn Trung cộng không thể làm gì được dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh điều đó.

Vậy thì Đảng CSVN hãy kịp thời quyết định sáng suốt để cứu lấy mình và cứu cả dân tộc! Nếu không, cả mình lẫn cả dân tộc sẽ thật khốn nạn! Hãy nhanh lên, đừng để quá muộn!

Houston, ngày 20/6/2014.

Nguyễn Chính Kết.

[1] Hiện nay, dư luận đang sôi sục lên vì nhiều bản tin liên quan đến mật ước Thành Đô được ký kết trong một mật nghị giữa hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên ngày 3-4/9/1990. Tin này đã được nhiều người nhắc đến từ nhiều năm nay, nhưng chỉ mang tính cách là một thông tin bị rò rỉ, không có gì xác đáng cả.

Nhưng mới đây, Wikileak xác nhận rằng mật ước này là một trong 3100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nội dung của mật ước này được cho là đarng CSVN chấp nhận Việt Nam sẽ trở thành một khu tự trị của Trung Cộng tương tự như Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây. Và thời điểm chót để hoàn thành mật ước này là năm 2020.

Chính vì thế, ngay sau khi Mật Nghị Thành Đô kết thúc, ông Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao thời đó đã phải thốt lên: "Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu", và sau đó ông đã bị cách chức. Trong tập hồi ký "Hồi ức và Suy nghĩ" của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, cũng tiết lộ nhiều điều về mật nghị này.

[2] Xin xem bài “Đã đến lúc phải dứt khoát” của Trần Gia Phụng trên trang http://danlambaovn.blogspot.com/2014/06/a-en-luc-phai-dut-khoat.html#more.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.