Hôm nay,  

Nhận Diện Vấn Đề

07/06/201407:42:00(Xem: 6338)
Nhận diện vấn đề
Thục Quyên

Trung Cộng nhìn thấy thời cơ và đã đi thêm một bước quyết định trong mưu đồ bành trướng của họ: giàn khoan HD-981.
Hơn một tháng đã qua, sự sôi sục, chuyển qua nhốn nháo rồi dịu dần của dân chúng, và sự bất động của nhà cầm quyền Việt Nam, mà vài ba tuyên bố đã gây hiểu lầm cũng đã được chỉnh lại đúng đường lối bằng những lời vuốt ve quỵ luỵ "nước bạn láng giềng Trung Quốc" của bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng quang Thanh tại hội nghị Shangri-La.

Ông đại tướng Thanh thật ra không hề nói một điều gì mới lạ. Làn sóng những bài viết và phản biện đi từ trách móc đến rủa xả ông ta chỉ cho thấy hoặc là sự nhẹ dạ hoặc là sự tuyệt vọng của đa số người dân Việt Nam còn lưu tâm và có khả năng lưu tâm đến vận mạng đất nước. Nhẹ dạ để lại hí hửng tin tưởng và hy vọng sau vài lời tuyên bố "thùng lon rỗng" (1), hay qúa tuyệt vọng như người khát nước trong sa mạc nóng bỏng, lao đầu vào cái ảo ảnh Fata Morgana trước khi gục xuống.

Dừng lại và nhìn sâu vào sự việc.
Sau một tháng tròn biết bao nhà trí thức, chuyên môn, đã vận dụng khả năng và sự suy nghĩ của mình để hiến kế cho nhà cầm quyền Việt Nam đối phó cấp bách với Trung Cộng. Nhưng bây giờ giả thuyết sự xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông của Trung Cộng là một hành động bất thình lình làm Đảng và nhà nước Việt Nam bối rối không biết xử trí ra sao đã rõ là sai hoàn toàn. Những vị cầm quyền cho thấy họ có một đường lối rất rõ ràng, không suy chuyển: kẻ im, người nói, chia vai trò với nhau rất nhịp nhàng, ăn khớp với thời điểm.
Điều đáng nói là dân không được biết đường lối này như thế nào, sẽ đưa dân tộc tới đâu, nên dân không thể suy nghĩ , bàn cãi hay không đồng ý. Khổ thay dù những người lãnh đạo vì tư lợi hay chỉ vì yếu kém, một mai khi đất nước mất chủ quyền là mất chủ quyền, không có hai loại nặng nhẹ khác nhau, và lúc đó có ngã ngũ tội tình thì cũng chẳng còn cứu vãn được gì.
Do đó việc làm cấp bách hiện nay , thiết nghĩ không phải là năn nỉ , kêu gọi hay trách móc (chưa đủ nữa hay sao? thế nào là nước đổ lá khoai?) mà phải là nổ lực bạch hóa những gì đảng Cộng sản và nhà nước đã thỏa thuận, ký kết với Trung Cộng.
Không biết chỗ đứng của mình, không biết trong tay mình có gì, không biết giặc ở những chỗ nào, đã nắm những yếu điểm nào của mình thì làm sao mà trở tay?

Kẻ đứng ngoài nói dễ, kẻ ở trong làm khó.

Vẫn biết như vậy. Nhưng nếu suốt tháng nay tốn bao công sức, giấy mực, để tính tóan mò mẫm những gì Mỹ, Nhật, Phillipines, rồi Nga, ASEAN, nghĩ và ......có thể sẽ làm, mà ngay trong nhà mình, mình không biết chuyện gì đang xảy ra, ngay cả những gì đã xảy ra cũng không biết nốt. Thế thì có khác chi chúng ta đang đóng vai hiệp sĩ mù qườ quạng đánh gió?
Có những tin tức Trung Cộng phóng vào dư luận thế giới mà Việt Nam không thể chống đỡ vì không có dữ kiện chính xác. Thí dụ tin Trung Cộng khẩn cấp đem tàu qua đón hơn 3000 người lao động , đem máy bay chở công nhân bị thương của họ, được báo chí thế giới đăng tải. Lẽ dĩ nhiên cũng có vài nhà chuyên môn ngọai quốc bình luận đây là một phản ứng thổi phồng để buộc tội Việt Nam, nhưng vài tiếng nói này không có chút ảnh hưởng gì để đảo ngược hình ảnh bất lợi về người Việt Nam mà bộ máy tuyên truyền Bắc Kinh reo rắc.
Trong khi ấy, nếu có con số người lao động China thực tình có mặt tại Việt Nam để đưa ra : 30.000? 150.000? 200.000? nghĩa là 10 lần? 50 lần? 70 lần hơn con số 3000 Bắc Kinh nhắng nhít báo động thì tình trạng trung thực có thể được đưa ra rõ ràng, một cách thật đơn giản và thuyết phục. (Kể thì cũng nên lưu ý những người này đang làm gì khi mà những vùng sinh sống của họ nghe nói nhà nước Việt Nam không có quyền kiểm soát?)

Cũng là một cách thật đơn giản để người dân Việt từ Bắc chí Nam hiểu đất nước xiêu vẹo này đã nghiêng nhiều về phía vực thẳm, nếu có một bản tổng kết số lượng hầm mỏ, công trường, trung tâm....nằm trong tay người China trên đất Việt.
Nếu có những bài phóng sự hoàn toàn đứng đắn ghi lại rõ ràng tình trạng người dân Việt sống chung quanh những nơi này, và cuộc sống những công nhân Việt Nam làm cho những hãng xưởng Trung Cộng.
Rất đơn giản và thuyết phục vì ngọn lửa yêu nước và tính tự trọng của người Việt sẽ đánh bạt ngay cái tình trạng bị đánh giá là vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Vô cảm hay không có tin tức? Thiếu hiểu biết hay vì đã bị uốn nắn để tin vào sự bất lực của mình?

Cứ nhìn tất cả những vấn đề liên quan tới cái công hàm -mà có thể không phải là công hàm- năm 1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng đang xích chân Việt Nam thì Việt Nam cần mang ra nghiên cứu tất cả những công hàm liên quan tới biên giới, hầm, mỏ, rừng, đất, người khác đã ký giao cho Trung Cộng. Phòng hờ những điều mình tuyên bố bây giờ về Hoàng sa Trường Sa đã không giúp lấy lại mà còn trở thành những lý luận vững chắc giúp Trung Cộng được thêm chỗ khác.

______________________________________________________________________

(1)https://www.danluan.org/tin-tuc/20140604/thuc-quyen-giac-da-vao-nha-lay-gi-ma-danh

.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.