Hôm nay,  

Kinh Tế Obamacare

04/03/201400:00:00(Xem: 16358)
...kể từ năm 2016, từ 6 đến 7 triệu người sẽ mất bảo hiểm tập thể do công ty cung cấp...

Trên cột báo này, chúng ta đã có dịp bàn rất sâu rộng về những hậu quả trên phương diện y tế của cuộc Cải Tổ Y Tế của TT Obama, được gọi nôm na là Obamacare. Cũng dễ hiểu vì quan trọng nhất trong cải tổ y tế là những hậu quả y tế. Nhưng trên thực tế cải tổ y tế này dĩ nhiên là sẽ có những ảnh hưởng vượt xa khỏi phạm vi y tế. Chẳng hạn như cột báo này đã bàn ít nhiều về tác động của Obamacare lên thị trường lao động qua việc các công ty sẽ sa thải hay thay đổi quy chế làm việc từ toàn thời qua bán thời để tránh khỏi phải chịu chi phí bảo hiểm y tế cho nhân viên.

Lý luận này không phải là lý luận kiểu bài bác khơi khơi cho có, mà là một lý luận cơ bản trong luật kinh tế thị trường. Nhưng dù sao thì cho đến nay vẫn chỉ là... lý luận, chưa được chứng minh bằng những con số thống kê thực tế hay nghiên cứu chi tiết.

Nhưng mới đây cơ quan CBO, tức là Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội, một cơ quan chính thức không phe đảng của quốc hội Hoa kỳ, đã chính thức phổ biến nghiên cứu của họ.

Từ trước đến nay, kể cả trên cột báo này, đã có nhiều lý luận cho rằng việc luật Obamacare sẽ đòi hỏi tất cả các công ty có trên 50 nhân viên toàn thời phải mua bảo hiểm sức khỏe tập thể cho tất cả các nhân viên, nếu không sẽ bị phạt nặng, sẽ đưa đến tình trạng một số không ít công ty nhỏ của giới trung và tiểu thương sẽ phải hoặc là sa thải nhân viên xuống dưới mức 50, hoặc là thay đổi quy chế nhân viên toàn thời, ép một số nhân viên phải qua làm việc bán thời để chỉ giữ dưới 50 nhân viên làm toàn thời. Ở đây, xin nhắc lại các công ty không bị bắt buộc phải cung cấp bảo hiểm y tế tập thể cho nhân viên làm bán thời.

Hệ quả đầu tiên và hiển nhiên là Obamacare sẽ không giúp giải quyết nạn thất nghiệp mà trái lại, còn gia tăng nạn thất nghiệp. Đó là một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng trong tình trạng kinh tế èo uột của Mỹ hiện nay, với tỷ lệ thất nghiệp ngất ngưởng ở mức cao nhất và lâu dài nhất lịch sử cận đại Mỹ.

Kinh tế Mỹ bình thường chỉ có khoảng 3%-4% thất nghiệp. Cao lắm và gây nhiều khó khăn là 5%-7%. Nhưng từ ngày TT Obama nhậm chức, tỷ lệ thất nghiệp đã leo lên lên xấp xỉ 10%. Lúc gần đây, tỷ lệ này đã hạ xuống dưới 7%. Nhưng con số 7% này mang một ý nghiã hoàn toàn sai lệch. Con số này xuống thấp như vậy chỉ vì hàng triệu người dân trong tuổi lao động đã bị loại ra khỏi thống kê của thị trường lao động vì họ đã thất nghiệp quá lâu, hay vì họ nản chí không ghi tên thất nghiệp hay đăng ký xin việc làm nữa. Con số thực tế của tỷ lệ thất nghiệp hiện hành, theo nhiều thống kê chính thức của Nhà Nước cho biết là… 15%.

Tỷ lệ thất nghiệp cao trên căn bản kinh tế học dĩ nhiên có tác dụng không tốt cho phát triển kinh tế. Càng ít người đi làm thì trên căn bản, sản xuất nói chung càng thấp kém. Cũng may là cái nguyên lý cơ bản này ngày một mất đi ý nghiã, chỉ vì thế giới ngày nay càng ngày cơ giới hoá, hay nói cho chính xác hơn, ngày một vi tính hoá. Một phần rất lớn các công tác ngày xưa đòi hỏi nhân viên, nhân sự, bây giờ đã được thay bằng máy vi tính, computer. Bởi vậy, ta thấy hiện tượng tỷ lệ thất nghiệp thật cao, nhưng kinh tế Mỹ vẫn phát triển ào ào, các công ty ngày một lời to, chỉ số Dow Jones, NASDAQ ngày một leo thang. Chỉ tổ làm giàu thêm cho các đại gia sở hữu chủ các công ty, trong khi nhân viên làm công cho những công ty đó thì … chưa bị sa thải là may, đừng mong chờ được tăng lương theo chỉ số Dow Jones.

Con số 15% thất nghiệp là nói chung cho cả nước. Nhưng nếu nhìn vào từng giới dân số thì con số còn kinh hoàng hơn nhiều, chẳng hạn như tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên da đen là trên dưới 40%. Ta chỉ cần lái xe dạo qua các khu da đen tại các thành phố lớn sẽ thấy các thanh niên da đen lang thang đứng đầy ngoài đường, chẳng có chuyện gì làm.

Tệ nạn xã hội cũng từ đó mà ra. Đặc biệt hiện nay mới phát sinh ra một “phong trào tiêu khiển” mới, rất thịnh hành trong các khu dân thiểu số da màu, gọi là “knock-out game”. Một đám thanh niên tụ tập một chỗ, hay cùng đi lang thang một nhóm, thấy một người lạ đi tới, bất ngờ vô cớ nhẩy ra đánh người đó chơi, rồi cả đám cười lăn ra rồi đi tìm mục tiêu khác. Người bị đánh, chẳng cần biết là ai, lớn bé, già trẻ, trai gái, ông già bà lão, hầu hết là da trắng, có khi da vàng, da nâu. Chẳng hận thù, chẳng quen biết, chẳng gây hấn hay xích mích gì. Đối với đám thanh niên, chán quá không biết làm gì, chỉ là một thú tiêu khiển mới phát minh ra cho vui. Và họ cũng hiểu với ông tổng thống là “người anh em” (bro), lại đã từng tuyên bố “cảnh sát đều là ngu xuẩn” (cops are stupid) thì việc bị bắt và trừng phạt cũng có thể nhẹ tay phần nào.

Những ông bà cấp tiến đã mau mắn chỉ trích các đại công ty, cho rằng họ là những người tham tiền, chỉ biết hành xử vì tiền bạc, sẵn sàng sa thải nhân viên mà không nghĩ gì đến vấn đề con người, số phận lao đao của những người bị sa thải. TT Obama đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi các đại công ty nên có chính sách tích cực giúp giải quyết nạn thất nghiệp bằng cách thuê thêm nhân viên. Ngay cả Đệ Nhất Phu Nhân Michelle cũng đã lên tiếng kêu gọi các công ty nên có chính sách giúp các cựu quân nhân có việc làm.

Qua những lời hò hét kêu gọi của các chính khách cấp tiến thì tất cả là lỗi từ phiá cung, tức là từ phiá các công ty, không chịu thuê thêm nhân viên để tiết kiệm chi phí bảo hiểm.

Nhưng rồi mới đây, Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội đã tạt một gáo nước lạnh, lay tỉnh thiên hạ về một thực tế khác xa hình ảnh của khối cấp tiến đưa ra mà nhiều người cho là đúng. Theo văn phòng này, thì nghiên cứu của họ cho thấy là tỷ lệ thất nghiệp cao dĩ nhiên một phần nào là hậu quả kinh tế của Obamacare, dồn một số công ty vào việc cắt giảm nhân viên, nhưng yếu tố quan trọng hơn lại là chuyện một số lớn nhân viên tự ý... nằm nhà nghỉ khỏe, ăn oeo-phe, nhận trợ cấp bảo hiểm, có lợi hơn đi làm nhiều! Ta cần lưu ý đây là chuyện họ tự ý nghỉ làm chứ không phải công ty sa thải họ.

Trước hết phải khẳng định ngay văn phòng này là một văn phòng chuyên gia không đảng phái, không phải do đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa bổ nhiệm và chi phối.

Đặc biệt văn phòng này cho biết là theo nghiên cứu của họ, luật Obamacare không khuyến khích các chủ hãng sa thải nhân viên nhiều như dự đoán, mà trái lại, luật đó đã tạo ra kẽ hở để thiên hạ có dịp nghỉ làm, nằm nhà ăn oeo-phe, lãnh trợ cấp để có bảo hiểm trọn vẹn, có lợi hơn.

Hàng triệu người đã hoặc là nghỉ làm luôn, hoặc là tự ý đi tìm việc làm bán thời, cốt sao cho mức lợi tức xuống tới mức có thể hưởng trợ cấp Medicaid trọn vẹn, hay hưởng trợ cấp tiền mua bảo hiểm y tế. Đó là những người có mức lợi tức cao hơn mức tối thiểu lãnh Medicaid một chút, họ nghỉ làm để lợi tức tuột xuống hạng Medicaid để nhận tiền Medicaid. Hay hạng người trong giới trung lưu thấp nghỉ làm, hay làm ít giờ đi để lợi tức tuột xuống mức để họ có thể nhận trợ cấp bảo hiểm y tế. Theo văn phòng này, Obamacare sẽ khiến ít nhất là hai triệu rưởi người tự ý nghỉ làm hay tự ý kiếm việc làm bán thời từ giờ cho đến năm 2017.

Bất cứ một người bình thường nào cũng thấy đây là một tình trạng bất thường, không thể có lợi cho đất nước. Cả triệu người không đi làm tất nhiên sẽ giảm mức sản xuất kinh tế cho quốc gia, và hơn nữa sẽ tăng gánh nặng của Nhà Nước qua việc tăng tiền trợ cấp đủ loại cho họ. Và dĩ nhiên người phải trả chi phí gia tăng đó là những người vẫn tiếp tục đi làm, đóng thuế cho Nhà Nước có thêm tiền nuôi những người không đi làm.

Và bất cứ một Nhà Nước bình thường nào cũng sẽ cảm thấy có cái gì không ổn, cần phải thay đổi chính sách để gia tăng việc cung cấp nhân lực cho thị trường lao động.

Nhưng oái ăm thay, đó không phải là thái độ của Nhà Nước Obama và khối cấp tiến phe ta. Khối này có vẻ lấy làm hãnh diện vì việc thiên hạ tự ý nghỉ làm phản ánh một chính sách đã cho phép họ có sự “tự do” –freedom- lựa chọn cuộc sống của họ, không bị lệ thuộc vào việc làm, và lại giúp cho những người này có “thời giờ dành cho đời sống gia đình”.

Kẻ viết này bóp trán suy nghĩ nát óc vẫn không hiểu được phản ứng này của chính quyền Obama là phản ứng “nói chơi” hay phản ứng “nói thiệt”. Thiên hạ thất nghiệp ào ào mà Nhà Nước cho rằng đó là điều tốt vì chứng tỏ Nhà Nước đã giúp họ có khả năng tự do lựa chọn lối sống –đi làm hay nằm nhà ăn trợ cấp- và có nhiều thời giờ dành cho gia đình??? Mọi chuyện đã có Nhà Nước lo.

Trên căn bản, lý luận kiểu này tuyệt đối nằm trọn trong nhân sinh quan “vú em” của chủ thuyết Obama. Và phần nào giải thích được việc Nhà Nước Obama chưa bao giờ thật sự quan tâm đến việc giải quyết nạn thất nghiệp tại nước này cả.

Đi đến tận cùng của lý luận này thì toàn dân cả nước sẽ có “tự do” được ngồi nhà, ăn tiền trợ cấp Nhà Nước để vợ chồng vui vẻ, du hý và sanh đẻ đầy nhà, rồi Nhà Nước lo hết. Nghe cũng có vẻ hấp dẫn, nhưng rồi câu hỏi là “thế thì ai là những người ngu muội đâm đầu đi làm? Nhà Nước lấy tiền đâu ra để nuôi cả nước ngồi nhà?”

Hay là Nhà Nước dự tính lột hết tiền của khối 1% “nhà giàu” đi làm cật lưng để nuôi 99% “nhà nghèo” ngồi mát ăn bát vàng? Kẻ viết này hiển nhiên thuộc thành phần 99% nên nghe chuyện này cũng thấy mát tai. Nhưng thực tế, đứa trẻ lớp mẫu giáo cũng hiểu tình trạng này không bao giờ có thể xẩy ra. Khối 1% không thể nào đủ giàu để nuôi khối 99% được. Và cái khối 1% chắc chắn không ngu đến độ tự ý tiếp tục cong lưng đi làm kiếm tiền nuôi khối 99%. Nếu ngu như vậy thì làm sao họ có thể trở thành giàu có được? Mà có muốn cũng không được. Cả triệu nhà máy, công ty, cửa hàng nuôi sống kinh tế cả nước nếu 99% nằm nhà thì lấy ai điều hành?

Thực tế mà nói, sẽ không bao giờ có chuyện 99% dân Mỹ quyết định nằm nhà sống bằng oeo-phe theo kiểu này. Chỉ là một thiểu số người thiếu tinh thần trách nhiệm, lợi dụng một kẽ hở của luật mới thôi. Do đó, hậu quả tài chánh không mấy quan trọng. Con số hai triệu người làm ít giờ đi sẽ không có tác dụng gì ghê gớm trên nền kinh tế vĩ đại của đại cường Cờ Hoa. Vấn đề không phải là những mất mát tiền bạc vật chất.

Vấn đề ở đây là thái độ của chính quyền Obama. Một sự lạm dụng kẽ hở của luật đáng lẽ nên bị chỉ trích và Nhà Nước cần làm một cái gì để ngăn chặn hay bít lỗ hổng. Nhưng Nhà Nước Obama trái lại, công khai bênh vực và ca tụng việc làm này. Đây là một hành động chẳng những cố tình lợi dụng kẽ hở luật pháp, mà lại là một thái độ cố tình trốn tránh nghiã vụ công dân để đùn gánh nặng tài chánh của mình lên đầu người khác. Trên căn bản, vừa bất hợp pháp, vừa vi phạm nguyên tắc đạo đức cũng như tính công bằng. Vậy mà lại được sự cổ võ của chính quyền Obama?!

Dĩ nhiên ai cũng hiểu lời biện giải cua chính quyền Obama chỉ là một cách ngụy biện chạy tội, tìm cách khỏa lấp thất bại (tăng số người thất nghiệp) bằng một kiểu giải thích tích cực (tự do và có thời giờ lo cho gia đình), nhưng vô hình chung, Nhà Nước Obama đã khuyến khích hay ít nhất cũng đã bao che cho dân lách luật và trốn tránh nghiã vụ công dân. Có phải đó là cách lãnh đạo đúng không? Nếu cả nước nghe theo khuyến khích của Nhà Nước thì chuyện gì sẽ xẩy ra?

Một kết luận khác đáng ghi nhận hơn nữa là vẫn theo nghiên cứu của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội, kể từ năm 2016, từ 6 đến 7 triệu người sẽ mất bảo hiểm tập thể do công ty cung cấp. Một số lớn công ty cấp tiểu và trung thương sẽ hủy bỏ chính sách cung cấp bảo hiểm tập thể cho nhân viên, và dĩ nhiên những người này sẽ bị bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế cá nhân riêng rẽ đắt hơn nhiều.

Và cái đinh của bản nghiên cứu mới thật là đáng ghi nhận: 10 năm nữa, đến năm 2024, con số người không có bảo hiểm sức khỏe tại Mỹ sẽ lên đến ít nhất 30 triệu người.

TT Obama viện dẫn chuyện nước Mỹ hiện có khoảng 30 triệu người không có bảo hiểm, và ông tung ra Obamacare với lý do chính là để chấm dứt tình trạng này và bảo đảm tất cả dân Mỹ đều có bảo hiểm y tế. Nhưng theo nghiên cứu mới này của quốc hội, 10 năm nữa, sẽ vẫn có 30 triệu người không có bảo hiểm. Nói cách khác, Obamacare với phí tổn bạc ngàn tỷ, và với những xáo trộn vĩ đại trong cuộc sống của thiên hạ cũng như trong chế độ y tế Mỹ, chỉ là chuyện… công cốc, chẳng thay đổi được gì hết.

Một viện nghiên cứu lớn khác, Brookings Institution, cho biết trên phương diện lợi tức, Obamacare sẽ giúp tăng lợi tức cho giai cấp lợi tức thấp nhất, những gia đình lãnh dưới 21.000 đô một năm, nhờ gia tăng tiền Medicaid khoảng gần 2.000 đô một năm. Tất cả những gia đình thuộc mức lợi tức cao hơn, và nhất là những người trong lớp tuổi từ 65 trở lên, sẽ thấy lợi tức hàng năm của mình bị giảm, từ 1% đến 2% một năm.

Một luật cải tổ y tế mà kết quả cuối cùng là vẫn có 30 triệu người không có bảo hiểm, hàng triệu người tự ý ngồi nhà ăn trợ cấp, và lợi tức của đại đa số dân bị giảm bớt. Chưa kể chuyện gây xáo trộn vĩ đại trong hệ thống y tế và tăng toàn diện chi phí bảo hiểm cũng như chi phí bác sĩ, nhà thương, thuốc men, và chữa trị. Đó là luật tốt hay xấu, có cần điều nghiên và chỉnh sửa hay không? (02-03-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.