Hôm nay,  

“From Your Valentine...”

12/02/201400:00:00(Xem: 7883)
Suốt năm viết về tình yêu vì tôi nghĩ đó là một trong những hiện tượng đẹp nhất của đời người, chẳng lẽ đến “Ngày Tình Yêu” tôi lại không viết dòng chữ bầy tỏ đôi lời!

Xã hội Tây phương nơi chúng ta đang sống, mỗi năm có St. Valentine’s Day. Đối với người Á Đông, cõi lòng thường là chốn xa xăm, không dễ dàng thổ lộ tình yêu mà ngược lại còn hay âm thầm dấu kín nên khi xưa tôi chẳng thấy ai ca tụng “Ngày Tình Yêu” trên quê hương mình. Thời gian qua đi, mọi vật chuyển đổi và bây giờ đã khác, dường như cái ngày “nồng cháy” ấy bỗng nhiên trở thành phong trào khắp nơi trên quả địa cầu.

Buổi chiều sau công việc, ung dung ngồi lái xe về nhà chợt thấy nắng vàng nhạt trên đường phố, không gì hạnh phúc hơn khi ta biết có ai đó đang tựa cửa chờ chia sẻ tâm tình bên bữa cơm chiều... Chắc hẳn nhiều người cũng thấy sự nồng nàn yêu thương ấy không mua, không bán mà đáng quý biết chừng nào? Chúc các bạn tìm được niềm vui... cảm thấy tim đập mạnh cho tình thêm sâu, lòng thêm háo hức suốt cả buổi mong mỏi đợi chờ vì “Valentine’s Day” năm nay rơi đúng vào ngày thứ sáu nên mọi người vẫn phải đi làm như thường lệ. Tuy nhiên sau “đêm tình yêu” chuẩn bị theo dự tính lại còn thêm 2 ngày cuối tuần nghỉ ngơi tha hồ mà tiếp tục âu yếm tỏ tình. Xin chớ đừng “vội vàng” như Xuân Diệu:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho mầu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Mau đi thôi mầu chưa ngả chiều hôm
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Tình yêu không có định nghĩa, tùy cảm xúc của người đối diện nhưng trong mọi trường hợp, lòng thành thật là căn bản vì cần thiết để tình yêu trưởng thành. Dối trá mang thời gian tính, không sớm thì muộn sẽ đẩy tình yêu vào vũng lầy và nhận chìm tất cả những ngày hoa mộng.

Có người hỏi tại sao tôi hay viết về tình vợ chồng lãng mạn khi tuổi đã xế chiều? Theo họ, cảm xúc trong suy nghĩ của tôi có nhiều điều không thích hợp hay nói trắng ra là thiếu thực tế! Văn chương ấy chỉ để đọc cho vui vì buổi chiều hoàng hôn chẳng thể nào lẫn lộn với ánh nắng bình minh đầu ngày...

Sau 20 - 30 năm hạnh phúc, sống nửa đời rồi thế mà vợ chồng ly dị lại thường hay sẩy đến... Lý do thì vô vàn dẫn đến cảnh tan nát cô đơn, mỗi tình một cảnh và khi hết yêu rồi thì “tình nghĩa đôi ta có thế thôi!”. Nhiều thuyền tình không rời bến vẫn cố gieo neo chốn cũ nhưng đêm ngày hằn học nhìn nhau chán ngán, nước cạn lửa tắt, lạnh lùng bên trong lạnh lẽo bên ngoài! Ngược lại, cũng có kẻ tha thiết muốn sống mối tình già tràn ngập yêu thương cho đến cuối đời. Hãy thử xem họ có nhiều chọn lựa để đạt niềm mong ước đó không?


Có lẽ ngoài những tình huống đặc biệt riêng lẻ, chúng ta chỉ thấy con đường một chiều duy nhất, đó là sự bảo trì theo kế hoạch... Tựa như mọi vật trên thế gian, tình yêu cũng cần sự chăm sóc định kỳ tỷ dụ một buổi chiều nào tức cảnh sinh tình, chàng và nàng cùng thổi oxy vào lò sưởi tình yêu làm bừng lên ngọn lửa ấm hay rủ nhau đến một nơi vắng vẻ hẹn hò yêu đương như muốn sống lại kỷ niệm những ngày xưa. Do cá tính của con người, tính chất lãng mạn thường xa vời thực tế nhưng chính nó lại mang hương hoa tô điểm cho tình yêu mỗi khi xuất hiện. Nếu vợ chồng ý thức được sự phong phú cần thiết ấy thì “hoa nở tung cánh” ví von như mối tình già cũng sẽ khó tàn, hương sắc còn phảng phất mỗi lúc mỗi nơi.

Hôm nọ, trên đường về nhà nghe đài phát thanh có ông bác sĩ thú y ra câu đố có thưởng: “Theo bạn màu tình yêu là màu gì?”. Người thì nói màu xanh hy vọng, kẻ bảo màu đỏ vì máu đỏ chẩy về tim nhưng câu trả lời đúng ý ông ta nhất là “mầu nho” vì đọc lái thành “mò nhau”. Yêu nhau thì dĩ nhiên là phải “mò nhau”, không “mò” không được! Tình yêu trong tâm hồn, tình dục ngoài thể chất, hai cái tình ấy chẳng thể nào xa nhau sống riêng lẻ dù còn trẻ hay đã già! Trẻ thì từng bữa, già mỗi tuần, mỗi tháng? Nếu mỗi năm thì nên xét lại chuyện định kỳ hoặc có bóng dáng của hồng nhan tri kỷ đâu đó mất rồi? Hoàn cảnh sẽ khó khăn, phức tạp hơn nhiều...

Để bảo trì tình yêu, vợ chồng phải trao đổi ái ngữ. Đó là điều kiện ắt có tối thiểu trong quan hệ vợ chồng bởi vì lời yêu thương có sức chuyển đổi tâm trạng người nghe và cả người nói từ đó sự cảm thông sẽ tiến đạt dễ dàng. Ấy cũng là phương cách tỏ sự tương kính đối với nhau.

Và cuối cùng, “Tôi muốn bảo cùng em, có những gì trong lòng không nói được thì em ơi, xin hãy lặng yên vì quanh đây, còn bao nhiêu những nỗi muộn phiền...”. Đây là lời khuyên ở đoạn cuối trong bài hát “Tôi Muốn Hỏi Tại Sao?” của nhạc sĩ Diệu Hương. Tôi không nghĩ thế! Sự yên lặng chỉ tạm gác vấn đề qua một bên, nó có sẵn âm thanh tàn phá và sẽ trở thành bom nổ chậm vào thời gian sau đó vì thế chúng ta nên nói cho nhau nghe “những gì trong lòng không nói được” bằng lời yêu thương tâm tình ngay chính trong “Ngày Tình Yêu” thứ sáu cuối tuần này.

Cao Đắc Vinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.