Hôm nay,  

Cha Đẻ Khẩu AK 47 Từ Trần

28/12/201300:00:00(Xem: 4269)
Khẩu súng tự động cầm tay Kalachnikov, thường được gọi tắt là AK 47 (Avtomat Kalachnikov 47) rất quen thuộc với các chiến trường Triều Tiên, rồi Đông Dương, từ đó được toàn thế giới biết đến.

Nhà kỹ sư sáng tạo ra khẩu súng này là ông Mikhail Kalachnikov, người Nga, sinh ngày 10/10 năm 1919 tại thị trấn Ijevsk, trong vùng núi Oural. Ông mất tại đây ngày 23/12/2013, sau một thời gian bị bệnh về tim, thọ 94 tuổi.

Khi 19 tuổi, năm 1938, M.K. gia nhập hồng quân trong binh chủng xe tăng. Năm 1941 ông bị thương khi chiến đấu chống phát xít Đức ở cửa ngõ thủ đô Moscow. Nằm ở viện quân y, ông nghiên cứu cải tiến tháp súng đặt trên xe tăng. Thấy ông có năng khiếu về cơ khí, cấp trên cho ông đi học về kỹ thuật cơ khí. Học xong ông tiếp tục nghiên cứu để cuối cùng ông chế tạo thành công, phát minh ra khẩu súng tự động nhẹ vào năm 1947, được mang tên Avtomat Kalachnikov, gọi tắt là AK 47.

Khẩu súng AK 47 trở thành khẩu súng chính thức trang bị rộng rãi cho bộ binh của quân đội xô viết, quân đội của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và trong một số cuộc chiến trên khắp các lục địa.

Ưu điểm nổi bật của khẩu AK 47 là gọn nhẹ, cân nặng có 4,3 kg không kể đạn, tốc độ bắn là hơn 600 viên đạn /phút, bắn đạn xa 1 ngàn mét, hiệu quả là 600 mét trở lại, máy móc đơn giản, dễ xử dụng. Theo ước tính của hãng thông tấn Nga Ria Novosti, đến nay đã có 100 triệu khẩu súng AK 47, được sản xuất phần lớn ở nước Nga, ngoài ra còn được chế tạo theo mẫu gốc ở tại Trung Quốc, Ba lan, Tiệp và Rumania. Ngay tại Nga, AK 47 không ngừng được cải tiến, để có AK 74, AK 103, AK 127 và mới nhất là AK 12.

Ông Mikhail Kalachnikov trở thành sỹ quan nổi tiếng, có công lớn trong quân đội xô viết. Ông cũng là Tiến sỹ khoa học kỹ thuật. Ông là sỹ quan lãnh đạo trong ngành quân giới của Hồng Quân Liên Xô. Ông được phong thiếu tướng năm 1994, rồi trung tướng. Ông là một trong những tướng lĩnh có nhiều huân chương và bằng khen nhất của nước Nga hiện nay. Ông được phong Anh hùng Lao động XHCN với Huân chương Lênin 2 lần, Giải thưởng Stalin, Giải thưởng Lênin, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Chiến công, 35 bằng khen về sáng chế phát minh khoa học kỹ thuật. Ông còn được đúc tượng đồng đặt tại quê nhà.

Một vài nước như Mozambique sau cuộc đấu tranh vũ trang đã đặt khẩu AK 47 trong Quốc Huy của mình.

Tại Pháp đã xuất bản cuốn hồi ký / tự truyện của ông với sự cộng tác của nhà văn nữ Pháp gốc Nga Elena Joly, với đầu đề ngộ nghĩnh: “Cuộc đời tôi/ theo các thời kỳ / hay theo loạt đạn”, “Ma vie, en rafales” (nhà xuất bản Le Seuil ), có nhiều chi tiết thú vị.

M.K. sinh trưởng trong một gia đình nông dân khá giả vùng núi Oural phía Tây Moscow. Gia đình rất đông con, M.K. là con thứ 17 trong 19 anh chị em, nhưng chỉ sống có 8 người, vì hồi ấy thuốc men thiếu thốn. Bố mẹ M.K. khi cách mạng tháng 10/1917 nổ ra bị quy là thành phần bóc lột koulak, bị đày đi Sibêri trong một nông trường quốc doanh. Bố chết khi 47 tuổi (năm 1930), lúc ấy M.K. 11 tuổi. Khi 17 tuổi M.K. trốn khỏi vùng Sibêri, đi làm ở ngành đường sắt, rồi nhập quân đội sau đó. Ông kể rằng hoàn cảnh đưa đẩy, ông không bao giờ nghĩ kẻ bị đày đọa như ông lại trở thành trung tướng Anh hùng. Ông có tính tò mò về máy móc từ nhỏ, chỉ mong sao nông dân có được những máy móc nông nghiệp, cho lao động đỡ phần vất vả.


Ông đã suy nghĩ cải tiến không ngừng khẩu súng máy cá nhân chỉ vì thấy súng máy của phát xít Đức lúc đầu mạnh hơn khẩu súng Nga, ông quyết bắt kịp và trước sau có đến 150 mẫu cải tiến lần lượt ra đời. Phương châm của ông là máy móc phải đơn giản, tháo lắp, xử dụng dễ dàng, khỏe nhưng nhẹ.

Ông có vợ là một họa sỹ công nghiệp chuyên vẽ kiểu cho các phát minh của ông. Ông có 1 con trai và 3 con gái. Con trai Victor Kalachnikov theo nghiệp bố cũng là kỹ sư ngành quân giới và đang làm việc trong nhà máy viên quốc phòng mang tên ông. Victor K. đã sáng chế ra khẩu súng nhỏ tự động Bizon 2 (pistolet mitraillette) trang bị cho cảnh sát.

Mẹ ông sanh rất nhiều lần nhưng sức khỏe bền, mất năm 1987 thọ 103 tuổi.

Nhiều phóng viên nước ngoài hỏi về thu nhập và tài sản riêng, phỏng đoán M.K. có thể có hàng vài triệu đô la US, có thể sánh với kỹ sư Mỹ Eugene Stoner, người từng sáng chế ra súng máy M16 của quân đội Hoa Kỳ. Ông cho biết do ông là sỹ quan Hồng quân được cử đi học khoa học kỹ thuật để cải tiến vũ khí nên các phát minh ấy đều thuộc về tập thể. Thu nhập duy nhất của ông là lương sỹ quan rất đủ rồi. Hơn nữa ông sống giản dị, hay đi dạo bộ, đọc sách, đi câu. Về hưu, ông ở căn nhà riêng nhỏ, ấm cúng chỉ có 2 buồng, nhưng lại có trường học, viện nghiên cứu, thư viện, thị trấn mang tên ông.

Con người như ông dưới chế độ cộng sản dù muốn đi ra ngoài nước để du lịch cũng không được. Người nổi tiếng như ông càng không được chu du đây đó. Ông chỉ có dịp 1 lần sang làm việc ở nước Bungari anh em, năm 1971. Phải đến năm 1990 sau khi đảng CS Liên Xô giải thể, ông rút khỏi đảng CS, thành người không đảng phái, về hưu, ông mới có dịp sang thăm Hoa Kỳ, nhìn thấy một xã hội năng động khác thường, ở ngoài sức tưởng tượng của ông.

Báo Pháp Libération (Giải phóng) nhân dịp này cho biết khi một người đưa ông xem bức ảnh Bin Laden cầm trong tay khẩu Kalachnikov AK 47, ông tỏ vẻ giận dữ nói: “Thật đáng tiếc, tôi làm ra khẩu súng này để phục vụ tổ quốc tôi, đâu phải để cho bọn khủng bố ! Cần phải ngăn cấm không để súng này vào tay bọn buôn lậu nữa!”

Báo này cũng cho biết đã có chừng 100 triệu khẩu AK trên khắp thế giới, trong đó còn chừng 50 triệu còn dùng được tốt. Sau khi một số nước CS Đông Âu tan rã, bọn buôn súng lậu đã lùng mua hàng ngàn khẩu AK để đầu cơ. Có khi giá một khẩu AK chỉ có 300 hay 400 Euro, khi lên cao nhất là 2 ngàn US $ / một khẩu. Súng đến từ Nam Tư và Rumania là nhiều nhất. Một số nhóm khủng bố gần đây bị bắt ở cảng Marseille / Pháp cùng một số khẩu AK thú nhận là AK gọn nhẹ dễ dấu, dễ xử dụng, đạn rất hiểm khi ở cự ly gần vài chục mét.

Báo Pháp nói trên cho biết theo tin từ CH LB Đức, một số công ty Đức đã ký thỏa thuận với gia đình ông M.K., cụ thể là với con gái đầu của ông cho phép các công ty này sản xuất ra rượu mạnh Vodka mang nhãn hiệu Kalachnikov đã bán ở thị trường. Sắp đến sẽ có dao các lọai, bút máy, bật lửa Kalachnikov của các công ty Đức xuất ra thị trường thế giới. Đây là một nét mới tiêu biểu cho nước Nga sau khi hội nhập với thế giới đã công nhận tài sản tinh thần riêng tư của các nhà phát minh và sáng chế.

Bùi Tín

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.