Hôm nay,  

Cái Phẹc-mơ-tuya

01/05/201300:00:00(Xem: 7479)


Trần Văn Giang
Nội cái tựa đề cũng là nhiều quý vị phải nhăn mặt?! Chuyện nhảm? Bộ hết chuyện nói rồi sao mà cha này rớ vô cái vật tầm thường, vô duyên lảng xẹc này?
Tôi lại không nghĩ như vậy. Chúng ta thường có thói quen không để ý đến những cái tầm thường, những cái nhỏ bé mà chính chúng ta cần phải dùng mỗi ngày vài lần; chẳng hạn như: Đôi đũa, giấy vệ sinh, cái phẹc-mơ-tuya… Cho đến khi chúng ta cần mà không có nó trong tầm tay. Khi đó mới trắng mắt ra.
Trước tiên, xin nói vài dòng qua loa về giấy vệ sinh. Sáng nay sau khi ăn một tô bún ốc với mắm tôm, bụng cứ kêu rào rào phát ra âm thanh rung rợn như như quân Pháp bắn súng mút-cà-tông vào thành Hà nội… Quýnh quáng, chạy vội vào một cái phòng tắm của một tiệm ăn nhanh bên đường. Sau khi thi hành phận sự công dân xong mới phát giác ra là cuộn giấy vệ sinh trong cái hộp gắn trên tường chỉ còn trơ cái lõi “carton” (Má ơi! No paper?)… không cần nói dài dòng cũng biết là quân ta phải chịu trận (suffered) như thế nào. Đó là vấn đề của ngày hôm nay, thế kỷ 21. Nhìn lại lịch sử thì Giấy mặc dù được Trung hoa phát minh từ năm 105 thời Đông Hán; nhưng giấy chỉ được mấy chú Ba dùng chút ít đại khái trong cung đình. Chưa có ai biết cách để sản xuất quy mô với số lượng lớn cho đại chúng cùng sử dụng. Cho mãi đến thế kỷ thứ 7, giấy mới được Nhật bản biết đến và cũng chỉ dùng rất giới hạn cho kinh điển Phật giáo. Vào thế kỷ thứ 8 thì giấy truyền đến Trung đông (Middle East). Thế kỷ thứ 10, văn minh Tây phương mới biết là trên quả đất này có người đã phát minh một thứ khác rất to tát, quan trong cho nhân loại chỉ sau cái phát minh ra Bánh xe; Đó là giấy. Phải đợi đến thế kỷ 13 giấy mới được dùng rộng rãi ở Âu châu (trên văn kiện, sách báo và giấy vệ sinh…)
Nóí dài dòng văn tự như vậy để thấy giấy vệ sinh không hề bao giờ, và không thể coi là chuyện nhỏ… Chẳng hạn, các chiến sĩ anh hùng của “Huyện Giao chỉ” ta theo Hai bà Trưng đánh quân Mã viện, thì sau bữa ăn phải dùng lá cây khô (?) Chứ moi đâu ra giấy cuộn lúc bấy giờ? Dân quân ta vẫn tiếp tục hàng ngày dùng lá cây dài dài cho đến khi Tây đến đánh thành Hà nội ở thế kỷ 19…
Trở lại cái phẹc-mơ-tuya (trước khi bị lạc đề!) Nó không có cái lịch sử huy hoàng tráng lệ xuất phát từ cung đình, hoàng gia như giấy; nhưng nó cũng có lịch sử đoàng hoàng. Điểm đặc biệt là nó chỉ mới có mặt trên hành tinh này trong vòng 100 năm nay thôi ạ. Có lẽ đã có nhiều nhà bác học đã nghĩ ra nó từ năm Ất Dậu nào đó; nhưng chỉ có Ông Whitcom Judson, một kỹ sư cơ khí ở Chicago, cầu chứng lấy bằng sáng chế (“Patent”) cái phẹc-mơ-tuya ngày 29 tháng 8 năm 1893. Lúc đầu, trong văn bản tài liệu nộp cho tòa sáng chế để lấy “Patent” ông gọi tên nó một cách rất tượng hình là “Fastener” (vật dùng để cột). Phẹc-mơ-tuya gồm có hai hàng móc, dài ngắn tùy ý, khóa lại với nhau (và mở rời nhau ra) bằng một cái khóa trượt theo chiều dọc của hai hàng khóa này. Mục đích sơ khởi của cái phẹc-mơ-tuya là dùng để cột, để đóng cái giầy “boot” lại, không cần dùng dây giầy…
Ông Judson đem cái sang chế phẹc-mơ-tuya ra trình diện ở Hội chợ Thế giới tại Chicago năm 1893. Với số người tham dự hội chợ khá đông đảo, có đến hàng triệu… vậy mà chẳng có ma nào thèm để ý cái “sáng chế thần kỳ” này (Nên biết thêm ông Judson còn có khoảng trên 30 sáng chế khác tất cả đều được dùng trong kỹ nghệ xe hơi. Sau này con cháu ông lãnh hàng triệu dollards tiền royalties). Thử hỏi với số đông người đi thăm hội chợ như vậy, ông Judson đã bán được bao nhiêu cái phẹc-mơ-tuya? Có bao nhiêu người mua? Con số không biết nói dối. Ông Judson bán được vỏn vẹn 20 cái phẹc-mơ-tuya cho duy nhất một khách hàng: Một sở Bưu Điện địa phương ở Chicago mua để là làm khóa / đóng các bao chưa thơ. Sau đó không bao giờ thấy sở Bưu điện này mua them lần thứ hai! Rõ ràng sở Bưu điện này cũng không bằng lòng về 20 cái phẹc-mơ-tuya quá mới mẻ này…
Trong 5 năm kế tiếp, ông Judson nhận thấy rằng không thề trông cậy vào cái sáng chế phẹc-mơ-tuya này để hốt đủ tiền và xin về hưu non. Ông Judson đành bỏ cái chuyện phẹc-mơ-tuya vào một xó; chú tâm vào các sáng chế khác cho kỹ nghệ Auto. Năm 1905, ông Judson có sáng kiến đưa cái phát minh phẹc-mơ-tuya vào kỹ nghệ sản xuất quần áo. Ông Judson mở một công ty sản xuất tên là “Universal Fastener” chuyên chế tạo loại phẹc-mơ-tuya dùng cho quần áo tên là “C-Curity Fastener.” Tên gọi là “security” mà phẩm chất chẳng có gì là “security” hết ráo trọi: Phụ nữ mặc áo, quần có phẹc-mơ-tuya của hãng “Universal Fastener” mà cúi xuống một cái là nó bung ra cái “phẹc,” mở toang ra phơi trọn bộ hàng độc, đôi khi còn có thể làm hàng độc bị trúng gió nữa không chừng… Đó là chưa kể phẹc-mơ-tuya bị rỉ sét khi sau vài lần đem giặt và mắc kẹt (“jammed”) vĩnh viễn? Cũng nên biết, quần áo mới có dùng phẹc-mơ-tuya của Universal Fastener đem ra bán trên thị trường thời đó còn có kèm theo một cái “chỉ dẫn” (instruction) rất tượng hình là:
“Nhớ là nhét chim vào chỗ an toàn trước khi đóng phẹc-mơ-tuya” (nguyên văn: “Make sure your private parts are NOT hanging out before pulling up.” Chời đất! Phẹc-mơ-tuya còn ảnh hưởng đến cả vấn đề truyền giống nữa a! Xin xem phần “Kẹt phẹc-mơ-tuya” ở phía dưới).
Điểm đáng chú ý là không hề thấy hãng Universal Fastener có kèm thêm chỉ dẫn nào về “sự cố kéo phẹc-mơ-tuya xuống (pulling down!) Riêng cá nhân tôi, tôi thấy còn thiếu một cái “nhắc nhở” (reminder) quan trọng khác là: “Nhớ đừng quên đóng phẹc-mơ-tuya nghe cha nội” (“Remember to zip up;”) bởi vì người viết thường bị vợ con nhắc nhở hà rầm là: “Bố đóng cái fly lại.” Chẳng những vậy, tại sở làm, tôi thấy nhiều đồng nghiệp nam cũng như nữ cứ “vô tư” đi diễn hành vòng vòng trong sở mà vẫn để cửa sổ quần mở tang hoác, nhìn liếc thấy cả đủ các loại “cartoons” người lớn cũng như trẻ con. Hãi thật!
Dường như chuyện ngắn Phẹc-mơ-tuya sắp “phẹc-mê” (đóng / fermer) ở đây rồi… Nhưng chuyện không phải đơn giản như vậy… bởi vì thực tế hôm nay, thế kỷ 21, chỗ nào cũng có Phẹc-mơ-tuya mới chết người: Quần áo, ví xách, bao, bị, bịch, giầy dép….
Câu chuyện diễn biến như thế này…

Năm 1906, công ty “Universal Fastener” mướn anh chàng Kỹ sư tài hoa gốc Đức sinh ở Thụy sĩ tên là Gideon Sundback vừa mới di cư đến Hoa kỳ vài năm trời. Vài Bác biết chuyện sẽ có théc méc là tại sao Gideon Sundback bỏ một cái “job” rất thơm tại một công ty lớn, vững vàng là Westinghouse để đến làm việc cho hãng Universial Fastener đang trên con đường xập tiệm? Câu trả lời là Gideon chạy theo tiếng gọi của con tim (!) Anh chàng ta yêu mê mệt cô con gái của một kỹ sư thiết kế trưởng (Main Design Engineer) của hãng “Universial Fastener.” Hèn gì!
“Project” sáng chế đầu tiên của Gideon Sundback tại Universal Fastener có tên là “Plako” ra đời năm 1908. Gideon Sundback đã sửa chữa và làm cho hoàn hảo hơn (improved) cái mẫu “design model”cũ của Judson: Giải quyết ngay tức thì là vấn đề rỉ sét mà Judson đã gặp phải. Gideon Sundback đặt tên cho cái “design” mới là “Hookless #2 Fastener” (cái Phẹc-mơ-tuya nguyên thủy của Judson có “code name” tên là “Hookless Fatener!”) Đây là cái Zipper (công ty B.F. Goodrich gọi cái “fastener” là Zipper; và cái tên Zipper giữ cho đến bây giờ. Xin phép được gọi Phẹc-mơ-tuya là Zipper bắt đầu từ chỗ này trong bài viết) mà chúng ta thấy hôm nay, hay sáng hôm nay cho rõ hơn… Câu chuyên Zipper xem như đã tạm ổn?
Lại them một lần nữa, không phải như vậy…
Vì sự bất tín nhiệm của khách hàng về cái zipper nguyên thủy (khách hàng vẫn còn nhớ những trở ngại mà họ đã gặp phải), và giá cả khá cao của cái zipper mới – Cho nên Zipper mới bán không chạy. Công ty Universal Fastener phải đổi tên là “Hookless Fastener Company” để xem phong thủy có hên hơn không!
Đến Đệ nhất Thế chiến, một nhà vẽ kiểu quần áo thời trang (Fashion dersigner) ở New York City tên là Robert J. Ewig vẽ ra cái Áo da Phi công (Airmen Waistcoat) và đặt tên là “Zip.” Áo có nhiều hàng zippers; từ đây số bán zippers mới bắt đầu khấm khá (có lẽ chữ Zipper bắt nguồn từ tên cái Áo da Phi công này mà ra!)… Sau thế chiến số Áo da Phi công này bán chậm hẳn lại.
Năm 1919, hãng thuốc lá Locktite sản xuất cái túi (pouch) đựng thuốc lá rời (thuốc lá dùng cho ống vố và thuốc vấn) có một cái zipper để đóng miệng túi lại. Không rõ vì lý do nào đó, cái túi đựng thuốc lá này bán chạy như tôm tươi. Bắt đầu vào giữa năm 1920, hãng Locktite sản xuất 200,000 túi đựng thuốc lá có zipper mỗi năm. Sau đó zipper mở rộng thị trường sang nhiều lãnh vực khác nhau… Nghĩa là sau 30 năm, zipper mới có được chỗ đứng mạnh mẽ trên thị trường như ngày hôm nay.
Năm 1921 có một thay đổi lớn. Một kỹ sư từ hãng cao su, vỏ xe hơi B.F. Goodrich tên là Frederick H. Martin sáng chế ra đôi giầy cao su tên là “Mystic Boot” có dùng cái “fastener” mà B.F. Goodrich goi là “Zipper” (Oái oăm! Chữ “Zipper” được B.F. Goodrich cầu chứng tại tòa cho cái giầy “boot,” chứ không phải cho cái đồ để cột – fastener). Loại giầy “boot” này bán rất chạy. Đến năm 1930 thì nhu cầu cho lại “boot” này không còn nữa; nhưng chữ “Zipper” tồn tại cho đến hôm nay.
Con số sản xuất zipper gia tăng thật ngoạn mục. Năm 1920 chỉ có độ 110,000 cái zipper được làm ra. Đến năm 1929, con số sản xuất là 17 triệu cái mỗi năm (?) Thế giới dù đang bị khủng hoảng kinh tế nặng nề (năm 1929) nhưng việc sản xuất zippers vẫn gia tăng vùn vụt như không có chuyện gì xẩy ra.
Một khi zippers ăn khách rồi, mọi người nhào vô làm hàng nhái, hàng cạnh tranh như nấm dại mọc sau cơn mưa. Ngày nay không thể biết có bao nhiêu công ty làm zipper trên thế giới?
YKK?
Nhìn mỗi cái khóa của zipper là thấy ngay 3 mẫu tự “YKK.” YKK là cái quái gì vậy?
Năm 1934, một ông Nhật lùn tên là Tadao Yashida mở hãng làm zippers ở Nhật. Cơ xưởng của ông ta bị máy bay đồng minh phá hủy trong các cuộc oanh kích năm 1945. Năm 1948, ông Yashida dựng lại cơ xưởng làm zipper từ đống tro tàn. Ông gọi sản phẩm của ông ta là “Zippers YKK,” chữ viết ngắn của “Yoshida Kygyo Kabushiki Kaisha” (dịch sang Anh Ngữ là Yoshida Company Limited). Ông ta chỉ có đủ chỗ được 3 chữa tắt “YKK” in khắc trên cái khoá zipper nhỏ xíu. YKK là công ty làm zipper lớn nhất trên thế giới.
Kẹt zipper!
Chuyện đời thật. Người viết không hề dám giỡn mặt quý vị, bà con cao niên, phịa chuyên nhảm nhí nói láo. Vả lại ngay chính người viết bài này cũng bị kẹt zippers vài lần; tuy có kêu trời, nhưng không có gì nghiêm trọng quá đáng… (Thành thật mà nói, ngay chính quý vị có lẽ cũng đã có vài lần kẹt / dập chim vì zippers rồi không chừng!)
Theo Báo cáo Y tế xuất bản trong “British Journal of Urology International” từ University Of California San Francisco (UCSF) Urology ký tên Herman Singh Bagga tháng 3/2013 đã có khoảng 17,616 người ở Hoa kỳ phải vào ER (Emergency Rooms) trong vòng 10 năm (2002 cho đến 2012) vì bị “dập chim” gây ra bởi Zippers (!) Tức là tính trung bình có 1700 người kẹt zipper trầm trọng mỗi năm – một con số đáng kể! Mr. Bagga nhấn mạnh là “dập chim” (Chim xanh / blue birds) là trường hợp tiêu biểu nhất cho người lớn thuộc nam giới phải đến phòng cấp cứu vì “kẹt zippers” (nguyên văn: single most common cause of penile injury in adult men reporting to emergency rooms). Mr. Bagga khuyên là nếu có lỡ bị kẹt chim gi::10ỵ1:: hai hang khóa của zipper thì hãy từ từ mà gỡ ra, không nên vội vàng làm gí… Nếu thấy tình thế không ổn thì nhờ vợ (hay 911/xe ambulance) chở thẳng vào ER của bệnh viện gàn nhất. Đừng có dại cố gắng gỡ ra (vì sợ quê) làm tình huống sẽ thê thảm hơn. Riêng trẻ con dập chim phần lớn vì ngã xe đạp và đi tiểu không đúng cách – Thiệt tình! Mấy đấng nhi đồng lười biếng, tiện tay cứ kê súng nước ngay trên miệng / riềm của cái “toilet…” Rồi chẳng may cái nắp toilet rơi xập xuống! Ối giời đất thiên địa ơi! Ouchie!
Lời cuối
Chúng ta đã lần lượt ôn qua lịch sử của Phẹc-mơ-tuya / Zipper. Phẹc-mơ-tuya / Zipper quả là một phần căn bản không thể thiếu của quần áo / y phục thời trang hiện đai mà chúng ta mặc hàng ngày. Chẳng những vậy, Phẹc-mơ-tuya / Zipper còn là một danh từ phồ thông được dùng trong nhiều hoàn cảnh của đời sống.
Thực vậy. Bây giờ đã đến lúc “đóng (zipper) lại.”
Nội dung bài viết này có bàn chuyện nhảm hay không? Câu trả lời xin để dành cho quý vị thẩm định.
Trần Văn Giang
Orange County
4/29/2013

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngược lại, những biến cố dồn dập đủ loại trong COVID-19 mở ra cuộc đấu tranh chính trị mới: đòi quyền được sống còn, có thuốc trị cho tất cả, đi lại an toàn, đó là một cái gì thiết thực trong đời sống hằng ngày và không còn chờ đợi được chính quyền ban phát ân huệ; nó khiến cho người dân có ý thức là trong các vấn đề nội chính, cải tổ chế độ là cần ưu tiên giải quyết. Người dân không còn muốn thấy vết nhơ của Đồng Tâm hay tiếp tục qùy lạy van xin, thì không còn cách nào khác hơn là phải có ý thức phản tỉnh để so sánh về các giá trị tự do cơ bản này và hành động trong gạn lọc. Tình hình chung trong việc chống dịch là bi quan và triển vọng phục hồi còn đấy bất trắc. Nhưng đó là một khởi đầu cho các nỗ lực kế tiếp. Trong lâu dài, dân chủ hoá là xu thế mà Việt Nam không thể tránh khỏi. Cải cách định chế chính trị và đào tạo cho con người để thích nghi không là một ý thức riêng cho những người quan tâm chính sự mà là của toàn dân muốn bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm
Trong vài thập niên vừa qua, giải Nobel Hòa Bình và Văn Chương được xem là một tuyên ngôn của ủy ban giải Nobel về các vấn đề thời cuộc quan trọng trong (những) năm trước và năm 2021 này cũng không là ngoại lệ. Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho nhà văn lưu vong gốc Tazania - một quốc gia Châu Phi, là Abdulrazak Gurnah "vì sự thẩm thấu kiên định và bác ái của ông đối với những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong vực sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa". Cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình đã dành cho hai ký giả Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga "vì những nỗ lực bảo vệ sự tự do ngôn luận, vốn là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và sự hòa bình lâu dài". Ủy ban Nobel Hòa Bình Na Uy còn nói thêm rằng, "họ đại diện cho tất cả các ký giả đang tranh đấu cho lý tưởng này, trong một thế giới mà nền dân chủ và tự do báo chí đang đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi" và cho "nền báo chí tự do, độc lập
Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ ... các thứ.
Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.
Sau 10 năm ra sức Xây dựng, chỉnh đốn hàng ngũ để bảo vệ đảng không tan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thừa nhận: ”Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”
Nếu mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ là một ván bài, thì người Mỹ sẽ nhận ra rằng họ đã được một lá bài tốt và tránh khuất phục trước nỗi sợ hãi hay niềm tin vào sự suy tàn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một lá bài tốt cũng có thể thua, nếu chơi tệ. Khi chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thực hiện chiến lược cạnh tranh đại cường với Trung Quốc, các nhà phân tích tìm các phép ẩn dụ trong lịch sử để giải thích tình trạng cạnh tranh ngày càng sâu sắc. Nhưng trong khi nhiều người dựa vào sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, thì một ẩn dụ lịch sử đáng lo ngại hơn là sự bắt đầu của Thế chiến thứ nhất. Năm 1914, tất cả các cường quốc đều mong rằng cuộc chiến Balkan lần thứ ba là ngắn ngủi. Thay vào đó, như nhà sử học người Anh Christopher Clark đã chỉ ra rằng, các cường quốc bị mộng du bước vào một trận đại chiến kéo dài bốn năm, phá hủy bốn đế chế và giết chết hàng triệu người.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật.”
Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ cần thêm bao nhiêu bà Mai phải (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.