Hôm nay,  

Cây Nêu

12/02/201300:00:00(Xem: 8016)

VATV tổng hợp
Ở Việt Nam, tại vùng thôn quê, có tập tục dựng cây nêu vào chiều 30 Tết và hạ nêu chiều mùng 7 Tết để mừng Tết Nguyên Đán. Cây nêu là một cây tre cao, dài nguyên vẹn chỉ tỉa lá. Trên ngọn nêu có cột một lá bùa và một túi tre nhỏ chứa trầu cau, muối và gạo.
Do đâu người Việt Nam có tập quán dựng cây nêu nhân dịp Tết? Cây nêu hàm ngụ bao nhiêu ý nghĩa Triết học, nhất là Triết học kinh tế?
Muốn giải đáp những thắc mắc trên chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sự tích cây nêu.
Tục truyền rằng vào thời dân Việt vừa biết kết hợp thành làng xóm, giang sơn Việt Nam bị loài quỷ dữ thống trị. Dân chúng khốn khổ, lầm than. Bao nhiêu tài nguyên và nhân lực đều bị quỷ cưỡng đoạt.
Lời than oán của dân Việt thấu tận trời xanh. Ngọc Hoàng bèn cử một vị thần tên là Thần Làng xuống giúp. Thần Làng gọi dân Việt lại mà bảo: “Nay ta giúp ý để các con thoát khổ. Các con hãy bảo với quỷ vương rằng loài thực vật gồm có rễ, thân và ngọn. Quỷ vương hãy cho biết mùa màng năm nay quỷ vương lấy phần ngọn hay phần rễ?”
Sau câu hỏi của dân Việt, Chúa quỷ hội ý với lâu la. Biết rằng dân Việt chuyên trồng lúa nên quyết định phán quỷ sẽ lấy phần ngọn, còn phần rễ dành cho dân Việt, vì hạt lúa nằm ở ngọn cây. Nhằm đương đầu với quyết định này của quỷ vương,Thần Làng khuyên toàn dân năm ấy trồng khoai vì củ khoai nằm ở rễ.
Vụ mùa năm ấy quỷ vương thua mưu dân Việt nên rất tức giận gọi đại diện dân Việt đến Vương Cung và phán: “Mùa gặt sang năm, quỷ vương sẽ lấy phần rễ, còn phần ngọn dành cho dân Việt.”
Mùa màng năm sau, theo lời dặn của Thần Làng, dân Việt trồng lúa và được hưởng phần ngọn, tức là lúa. Thế là, quỷ vương thua mưu dân Việt lần thứ hai.
Mặc dù đã thua trí hai lần, quỷ vương vẫn không từ bỏ tâm địa tham ác lại ra lệnh cho dân Việt: “Mùa màng năm tới quỷ vương sẽ thu cả phần ngọn lẫn phần rễ, chỉ để thân cây lại cho dân Việt.” Do đó, Thần Làng bảo dân Việt trồng bắp vì quả bắp nằm ở thân cây. Một lần nữa, Thần làng đã giúp dân Việt thắng trí quỷ vương.
Sau ba lần thua cuộc, Quỷ vương ra lệnh cho tập đoàn quỷ tấn công bừa bãi vào dân Việt cướp lúa, ngô, khoai. Mặt khác, quỷ vương đã biết dân Việt được Thần Làng hỗ trợ nên ra lệnh cho một số quỷ con đội lốt người, trà trộn với dân Việt để tìm yếu điểm của Thần Làng. Thần Làng cho dân Việt phao tin: Thần làng sợ xôi, sợ chuối. Ngược lại, Thần làng cũng biết quỷ sợ huyết chó, huyết dê. Thế là quỷ vương chuẩn bị xôi chuối để tấn công trong khi dân Việt sẵn sàng phản công bằng huyết chó, huyết dê. Cả hai bên hồi hộp chờ đợi một cuộc chiến mất còn.

Thế rồi, trận chiến xảy ra. Quỷ tấn công người bằng xôi, bằng chuối; người tấn công quỷ bằng huyết dê, huyết chó. Nhờ xôi chuối, dân Việt sung sướng no bụng, trong khi loài quỷ chạy dài vì bị huyết chó, huyết dê ám.
Sau thảm bại này, quỷ vương tìm tới Thần Thành Hoàng Bản Xã để thương thuyết. Quỷ vương đề nghị trả lại đất cho dân Việt, chỉ xin giữ lại một mảnh đất nhỏ để sinh nhai. Thần Làng đã biết lũ quỷ này đang tính kế ngụy hòa, chờ khôi phục lực lượng để tấn công dân Việt. Vì vậy, Thần Làng đáp lễ và giao kết dân Việt chỉ giữ một mảnh đất bằng tấm áo của Thần, chỗ còn lại sẽ nhường hết cho quỷ. Như thế, giao ước giữa quỷ và dân Việt đã thành hình.
Thần làng cởi tấm áo đang mặc và dùng để xác định lãnh thổ của dân Việt. Thần tung áo lên trời, áo càng lên cao càng lớn. Bóng chiếc áo lan đến đâu thì lũ quỷ lùi dần đến đó, ra tận biển Đông. Từ đó dân Việt sống an lạc. Quỷ ở biển Đông thiếu ăn thiếu mặc, rét mướt quanh năm. Vì vậy, quỷ xin với Thần, hàng năm vào dịp Tết, cho phép quỷ được vào đất liền để thăm mồ mả và kiếm lương thực. Vì lòng nhân ái, Thần chấp thuận.
Từ đó, mỗi độ Xuân về, Dân Việt nhớ lời Thần, mở cửa cho quỷ về thăm đất liền, nhưng không quên cột lá bùa tượng trưng cho áo Thần trên cành tre cao để nhắc nhở lũ quỷ rằng tuy người dân Việt cho phép quỷ về thăm đất liền, nhưng quỷ chớ xảo trá, lật lọng, vì tấm áo của Thần còn đó, sẵn sàng trừng phạt chúng. Mặt khác, người dân Việt hiền hòa, từ bi treo trên cây nêu, dưới bùa áo Thần, một giỏ tre chứa gạo, muối và trầu cau hàm ý bố thí cho quỷ bữa ăn đầu Xuân.
Qua chuyện sự tích Cây nêu, người ta đặc biệt chú ý tới: Quỷ vương, Dân Việt và Chiếc Áo Thần.
Quỷ vương tiêu biểu cho mọi thói hư tật xấu của loài người. Thói hư tật xấu lớn nhất, độc ác nhất của loài người là lòng tham muốn độc quyền kinh tế. Do lòng tham vô đáy đó, CSVN tập trung quyền lợi kinh tế trong tay và đẻ ra cái gọi là chế độ Tư Bản Nhà Nước, hay còn gọi là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tức Cộng sản.
Gần đây, CSVN hiện nguyên hình Tư Bản Đỏ. Quyền lợi trong nước tập trung vào tay thiểu số 2 triệu tư nhân giàu có núp dưới lá bài vô sản. Tư Bản Đỏ Chuyên Chính thì lại nguy hiểm hơn vì họ không chỉ nắm tiền tài mà nắm luôn quyền sinh sát người dân vô tội.
Song, ma quỷ thường sợ thánh thần, nên hiện nay trong nước, nhiều quỷ vương cấp trung ương đã cả quyết rằng: "Hiện tượng chiếc áo thần và cây nêu rất có thể là diễn biến Hoà Bình!" Thật vậy, chiếc Áo Thần Tự Do Mậu Dịch Thế Giới, chiếc Áo Thần Tự Do Tín Ngưỡng và chiếc Áo Thần Quyền Làm Người đang được từ từ trải rộng hơn. Giờ đã đến lúc người dân VN mừng Xuân và dựng lại ngọn nêu để tiêu trừ loài quỷ đỏ.
Tài liệu của Đỗ Thái Nhiên
Lê Thùy Lan và Võ Thành Nhân thu ngắn cho VATV

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.