Hôm nay,  

Lễ Giáng Sinh

20/12/201200:00:00(Xem: 13559)
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Christmas, Xmas hay Noel (Noel là từ viết tắt từ chữ Emmanuel của tiếng Pháp, có nghĩa là: Thiên chúa ở với chúng ta). Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ là tước vị của Đức Jesus (Giêsu). Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Jesus. Chữ Christmas và Xmas đều có ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos, người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho chữ Chi, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ.

1- Chúa sinh ra đời: Theo kinh điển của đạo Công giáo (Catholic), Chúa Jesus do Đức Mẹ Đồng Trinh, tự nhiên mang thai mà sinh ra. Sự thụ thai này do quyền lực thần diệu của Thượng Đế tạo ra, trong khi bà Mary còn đồng trinh. Chúa Jesus đã sinh vào đêm 24 tháng 12 (DL), trong một chuồng ngựa (stable) tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của nước Do Thái (Israel), lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của đế quốc La Mã, khoảng năm 6 (TCN) đến năm 6 (SCN), và được đặt trong máng cỏ (manger) vì lúc đó trong nhà trọ (inn) không còn một phòng trống nào. Sau đó, Chúa Jesus được Đức Mẹ Mary và ông Joseph nuôi nấng tại Nazareth, một thành phố ở phía bắc Israel.

Khi Chúa Jesus 12 tuổi, được đưa đến một giáo đường ở Jerusalem và đã làm kinh ngạc các giáo sư về môn Mosaic Law (kinh luật Hồi giáo), với sự hiểu biết thông thái của ngài.

2- Chúa Jesus hành đạo: Khi lớn lên, Chúa Jesus nhận 12 người Tông Đồ, cùng ngài đi khắp nơi ở Palestine để giảng đạo, chữa bệnh, và thực hiện các phép lạ và cũng từ đấy tin tưởng Đức Jesus Christ là vị chúa cứu thế.

Ngài đi rao giảng lời của Thượng Đế, nên có rất nhiều tín đồ và đồng thời cũng có nhiều kẻ thù. Cuối cùng, Chúa Jesus bị tên Judas Iscariot phản bội, bị Pontius Pilate người lãnh đạo dân Do Thái lúc bấy giờ kết án, và bị chính quyền La Mã đóng đinh trên thập tự giá. Cũng theo kinh điển của Thiên Chúa giáo, ngài đã cải tử hoàn sinh, nên sau này có lễ Phục sinh (Easter). Theo Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục sinh tất cả rơi vào ngày Chủ nhật, giữa ngày 22 tháng 3 và ngày 25 tháng 4. Ngày kế tiếp, thứ Hai, được công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức của nhiều quốc gia trên thế giới.

3- Mừng ngày Lễ Giáng sinh: Có một số nước ăn mừng Lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12, một số nước khác lại vào tối

ngày 24 tháng 12. Tuy nhiên, lễ đêm 24 tháng 12, thường thu hút tín đồ tham dự đông đảo hơn. Ngày nay, ở Việt Nam, lễ Giáng sinh đã được coi là một ngày lễ chung, được tổ chức vào tối 24 cho đến ngày 25 tháng 12. Tín đồ Công giáo tại Việt Nam hân hoan mừng Chúa Giáng sinh, cùng với nhân dân trên khắp thế giới. Ngày lễ Giáng sinh, chưng bày vô cùng rực rỡ.

Những điều quan trọng biểu hiện vào dịp lễ Giáng sinh:

4- Ông già Noel và Tặng quà Giáng sinh:

Ngày lễ Giáng sinh, thường xuất hiện ông già Noel, mặc quần áo và đội mũ màu đỏ, giày đen, tóc và râu trắng như tuyết. Ông cỡi xe tuần lộc (xe do hưu, nai kéo) trên không trung. Ông già Noel tiếng Pháp gọi là Père de Noel, tiếng Anh-Mỹ là Santa Claus. Tương truyền ông Nicolaus là hình ảnh ông già Noel, ông sinh ở quận Patara thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, mất ngày 6 tháng 12, không rõ năm, sau đó ông được phong thánh. Ông là người giàu có, tính tình nhân từ, hay giúp đỡ người nghèo khó, thủy thủ, nhất là trẻ em nghèo khổ. Vào dịp Giáng sinh, ông thường đem quà qua ống khói, tặng cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong chiếc tất (vớ). Quà tặng là tiền hay bánh kẹo, để gần nơi lò sưởi, cây Noel hay bên giường ngủ cho các em. Phong tục này khuyến khích các em làm điều thiện và siêng sắn học tập để được tặng quà.

Điển tích tặng quà: Chúa Jesus chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, có ba vị vua phương Đông (nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria) đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá: Vàng, trầm hương và mộc dược. Những người dân thường thì đem tặng hoa quả, và những gì mà họ có. Hang đá nơi Chúa giáng sinh được đánh dấu bằng một ngôi sao bạc nhiều cánh. Trên ngôi sao có khắc dòng chữ Latin: “Hic de virgine Maria Jesus Christus natus est” (Tại đây, trinh nữ Maria đã hạ sinh Đức Chúa Jesus). Đến ngày nay, vào dịp Giáng sinh, người ta tặng cho nhau món quà hay bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân hay bạn bè.

5- Thiệp Giáng sinh: Năm 1843, thương gia người Anh là Henry Cole, nhờ họa sĩ Horsley ở London thiết kế một tấm thiệp thật đẹp, để tặng bạn bè. Noel năm đó họa sĩ Horsley trình làng tấm thiệp Giáng sinh đầu tiên, được nhiều người trên thế giới nhiệt liệt tán thưởng, nên in tiếp 1000 tấm thiệp nữa. Từ đấy, thiệp Giáng sinh tại Anh phát triển, rồi du nhập qua Đức và khoảng 30 năm sau, nhân dân Hoa Kỳ cũng hưởng ứng trong việc gởi thiệp Giáng sinh đến người thân hay bạn bè.

6- Cây Noel: Noel là tiếng Pháp, còn tiếng Anh-Mỹ thì gọi là Christmas tree. Vào thế kỷ thứ VII, vị tu sĩ người Đức có tên thánh là Bonifacedax, cùng với một số tu sĩ vùng Geismar, chặt một cây sồi thật to, khi cây sồi ngã, tất cả cây cối xung quanh bị đè bẹp, riêng cây thông không bị hề hấn gì, họ gọi cây ấy là “cây Chúa hài đồng Jesus”, từ đó người ta dùng cây thông nhỏ chưng bày trong dịp Giáng sinh.

Cây Noel được gọi lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521. Đến năm 1560, tín đồ Tin Lành cũng chọn cây thông trưng bày vào ngày Giáng sinh. Từ thế kỷ XIX cho đến nay, cây Noel được trưng bày vào ngày Giáng sinh.

7- Vòng lá mùa vọng: Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh, thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy, trong 4 tuần Mùa vọng. Vòng lá có hình tròn biểu tượng vĩnh hằng và tình thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh là biểu tượng rằng Đấng cứu thế sẽ cứu con người. Trong 4 cây nến: 3 cây màu tím là màu của mùa vọng, 1 cây màu hồng là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday); hoặc 4 cây nến đỏ; cứ mỗi tuần mùa Vọng đốt 1 cây nến.

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.