Hôm nay,  

Thổ-Cẩm Việt-Nam

30/10/201200:00:00(Xem: 13047)
Diamond Bích-Ngọc
(sưu-tầm & biên soạn)

Theo số liệu ước tính của “The World Factbook” do CIA (Central Intelligence Agency) công bố: vào tháng 7 năm 2012, dân số Việt Nam là 91.519.289 người, đứng hàng thứ 13 trên thế giới.

Trẻ sơ-sinh đến 14 tuổi chiếm tỷ-lệ 24.9% (11.924.283 Nam và 10.824.773 Nữ)

Từ 15 đến 64 tuổi: 69.6% (31.824.777 Nam và 31.887.228 Nữ)

Trên 65 tuổi: 5.5% (1.940.755 Nam và 3.117.473 Nữ)

Việt Nam gồm 54 sắc tộc. Đông nhất là người Kinh, chiếm 85.7%, Tày (1.9%), Thái (1.8%), Mường (1.5%), Khmer (1.5%), Hmông (1.2%), Nùng (1.1%), còn lại 5.3% là người Dao, Giarai, Êđê , Chăm, Sán-Dìu, Raglay... Đa số các dân-tộc này sống ở miền núi trong những vùng sâu, vùng xa phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng-bằng sông Cửu-Long. Cuối cùng là các dân-tộc Brâu, Ơ-Đu và Rơ-Măm chỉ khoảng trên 300 người.

Link: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/vm.html

Người Hoa cũng được xem là 1 trong 54 sắc dân thiểu-số tại Việt-Nam. Theo “Từ-Điển Bách-Khoa-Toàn-Thư” họ là người có tổ-tiên đến từ Trung-Quốc. Phần lớn là người Hán, tuy nhiên cũng có những người không thuộc Hán tộc. Phần đông người Hoa ở Việt-Nam cũng như trên thế-giới đều đến từ hai tỉnh cực Nam của Trung Quốc là Quảng-Đông và Phúc-Kiến. Riêng một bộ phận nhỏ đến từ vùng duyên-hải Triều-San thì được gọi là người Triều-Châu. Hiện nay người Hoa ở Việt-Nam gồm hai thành-phần: nhóm thứ nhất đã vào nước ta sinh sống chủ yếu tại miền Nam từ khoảng 300 năm nay (thời Trần-Thượng-Xuyên, Dương-Ngạn-Địch, Mạc-Cửu), số còn lại mới vào Việt-Nam từ đầu thế-kỷ 20 khi nước ta còn là thuộc-địa của Pháp, nhóm này sống nhiều tại Chợ-Lớn. Giống như người Hoa tại các nước khác, ở Việt-Nam họ thường tập-trung trong lĩnh-vực thương-mại và được xem là rất thành-đạt.
nguoi_thuong_3
Các ca-nhạc-sĩ: Thanh-Hằng, Dr. David Bui, M.D, Thùy-Liêm, Lan-Anh, Châu-Hiệp, Quốc-Hùng, An-Khoa, Diamond Bích-Ngọc, Thái-Nguyên và Trung-Chánh trong trang-phục “Thổ-Cẩm” trình-diễn tại Garden Park Care Center (sinh-hoạt thiện-nguyện tháng 10 -2012).
Trong giới-hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ xin nói đến những nét đặc-sắc của người thiểu-số vùng cao-nguyên Việt-Nam, tức người Thượng.

“UNHCR” (United Nations High Commissioner for Refugees) tức Cao-Uỷ-Tỵ-Nạn-Liên-Hiệp-Quốc thường nói tắt là "Cao-Ủy-Tỵ-Nạn". Tên gọi rất quen thuộc đối với tất-cả những người Việt-Nam phải rời bỏ đất nước sau biến-cố 30, tháng 4, 1975 - đây là một cơ-quan được thành-lập ngày 14 tháng 12 năm 1950, có trụ sở tại Genève (Thụy Sĩ). Tiền-thân là Tổ-Chức-Quốc-Tế về Người-Tỵ-Nạn (International Refugee Organization) và trước nữa là Cơ-Quan Liên-Hiệp-Quốc về Cứu-Tế và Phục-Hồi (United Nations Relief and Rehabilitation Administration). Mục-đích của Cao-Ủy là chỉ-huy và phối-hợp các hoạt-động quốc-tế nhằm bảo-vệ và giải-quyết nhiều vấn-đề cho người tỵ-nạn trên toàn thế-giới. “UNCHR” đã được tặng Giải Nobel Hòa-Bình hai lần: 1954 và 1981.

“UNHCR” đã ghi-nhận rằng: đồng bào vùng cao (Highland) miền Bắc Việt-Nam tức người Thượng (là một thuật-ngữ có từ thời Pháp thuộc), họ thường cư-trú ngoài vùng sông Hồng và có một nền văn-hóa rất gần-gũi với người Việt-Nam.

Người Thượng có thể được chia thành (ít nhất) trên 30 dân-tộc khác nhau; nói không cùng ngôn-ngữ nhưng chủ yếu là loại “Austronesian Languages” (Ngữ Hệ Nam Đảo) như người Gia Rai, Ê-đê, Rag Lai và Chăm. Nói tiếng “Mon-Khmer” là người: Ba Na, Bru-Vân Kiều, Giẻ Triêng, M'Nông, Xê Đăng và X Tieng. Hầu hết họ theo chế-độ Mẫu Hệ “Matrilineality” (là một hình-thái tổ-chức xã-hội trong đó người phụ-nữ, đặc biệt là người Mẹ, giữ vai trò lãnh-đạo, quyền-lực và tài-sản trong gia-đình được truyền từ Mẹ cho con gái). Người Êđê và Bahnar (Jarai, Rhade, Bahnar, Koho, M'nông, Stiêng) thường là tín-hữu Công-Giáo hay Tin-Lành.
nguoi_thuong_1
Các ca-nhạc-sĩ gia-đình “Chân-Quê” mang màu sắc “Thổ-Cẩm” tươi vui đến “Pacific Heaven Health Care Center”. Một Nursing-Home với 99% là người Mỹ trắng.
Người Thượng có nguồn gốc từ các nhóm khác nhau, người ta cho rằng họ đã đến định-cư ở những vùng phía nam Đông-Dương cách đây hơn 2.000 năm - trước khi có sự xuất-hiện của dân-tộc Kinh. Trong suốt thời kỳ tiền thuộc-địa, đồng bào dân-tộc thiểu-số này vẫn duy-trì sự tự-trị với nhà nước Việt-Nam. Từ khi Pháp chiếm Đông-Dương các khu-vực vùng cao là mục-tiêu của giáo-dục truyền giáo và các hoạt-động thương-mại. Người Pháp dùng chính sách “chia để trị” (devide and conquer) giữa người “Thượng” và “Kinh” (tương-tự như hình-thức chia dân-tộc ta làm ba phần: Bắc, Trung & Nam). Từ đó gây ra những mâu-thuẫn nên đã có những cuộc nổi dậy như của người Jarai kéo dài cho đến cuối những năm 1930.

Để dành được sự ủng-hộ từ các nhóm dân-tộc thiểu số ở các vùng cao-nguyên phía Bắc và Trung phần, chính-quyền thực-dân Pháp thành lập khu tự-trị dân-tộc Mường và Thái ở vùng núi Tây- Bắc và Tây-Nguyên Trung bộ như 'Pays Montagnard du Sud' – đặt dưới quyền giám sát trực-tiếp của vua Bảo-Đại lúc bấy giờ.

(Link: http://www.unhcr.org/refworld/topic,463af2212,469f2f9a2,49749c7e16,0.html)

Một số tài-liệu khác cũng ghi-nhận rằng: vào năm 1956, Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm của chính-quyền Đệ-Nhất-Cộng-Hòa Việt-Nam cho thành lập “Văn-Phòng-Cố-Vấn-Thượng-Vụ” để góp ý về những vấn-đề liên-quan đến cao-nguyên miền Thượng, rồi được nâng cấp lên thành “Nha-Công-Tác-Xã-Hội-Miền-Thượng” (nghị định số 302/NV ngày 3-7-1957) trực thuộc Phủ-Tổng-Thống, trụ sở đặt tại Huế.

Mặc dù chính-sách đề ra cố-gắng giúp người Thượng hội-nhập và đề cao khái-niệm quốc-gia nhưng cũng vướng vào hậu-quả gây thiệt-hại kinh-tế và tổn thương tự-ái của các sắc-tộc vùng cao-nguyên Trung phần. Phong trào BAJARAKA bộc phát (đây là chữ viết tắt tên bốn sắc tộc lớn trên Tây Nguyên : BAhnar, dJArai, RhAdé và KAho) kêu gọi vận động dân chúng Thượng chống lại chính quyền miền Nam.

Những người lãnh-đạo phong trào gồm có các ông Y Bham Ênuôl (người Rhadé, sáng lập viên), Siu Síp (nhân sĩ Djarai), Y Dhơn Adrong (hiệu trưởng trường tiểu học Lạc Thiện), Y Nuin Hmok (giáo viên trung học buôn Kram kiêm chính trị viên), Y Nam Êban (sĩ quan), Y Bhan Kpor, Y Chôn Mlô Duôn Du, Nay Luett, Paul Nưr (trí thức Bahnar) và nhiều nhân sĩ gốc Chăm, Mạ, Stiêng, Kor...) như một phản-ứng của người dân miền Thượng.

Cuộc chống đối đầu tiên xảy ra vào giữa tháng 9-1957, trong một buổi học chữ Việt dành cho người Thượng : ông Y Bham Ênuôl công-khai nói lên những bất đồng của người Thượng và đòi quyền "biệt lập" về hành-chánh và chính-trị.

Một năm sau, trong hai tháng 8 và 9-1958, phong trào Bajaraka tổ-chức nhiều cuộc xuống đường tại Kontum, Pleiku, Buôn-Ma-Thuột nhưng đều bị trấn áp, tất cả những lãnh tụ của phong trào đều bị bắt, những thành-phần có uy-tín như sĩ-quan và công-chức Thượng đang công-tác trên cao-nguyên đều bị thuyên-chuyển về đồng bằng. Cộng-đồng người Thượng như rắn mất đầu đã bị cán bộ Cộng-Sản nằm vùng tuyên-truyền và lôi kéo theo họ chống lại chính-quyền miền Nam; không những thế, một số thanh-niên Thượng ưu-tú còn được tuyển mộ ra Bắc học-tập rồi đưa vào Nam hoạt-động cho phe Cộng-Sản.

Trước đe dọa mới này, tháng 10-1958, chính-quyền Ngô Đình Diệm kêu gọi Kinh-Thượng hợp tác chống Cộng và hứa sẽ cải-tổ sâu rộng hơn về kinh-tế, xã-hội miền Thượng.Văn-Phòng Xã- Hội được thành-lập tại Tây-Nguyên, nhiều học-sinh Thượng được đưa về Huế và các thành-phố Qui-Nhơn, Nha-Trang, Đà-Lạt học trong những trường trung-học kỹ-thuật. Một số cán-bộ Thượng được đưa về Sài-Gòn tu-nghiệp tại “Học-Viện-Quốc-Gia-Hành-Chánh”.


Nhưng kết quả đã không như mong muốn, Văn-Phòng Xã-Hội không hoạt động gì cả, các học- sinh Thượng ra trường (khoảng 150 người mỗi năm) không tìm được việc làm vì thiếu trình độ; bằng cấp của học sinh Thượng thường do nâng đỡ.Đời sống của người Thượng không sáng sủa gì hơn… (trích từ tài-liệu của chuyên-gia dân-tộc tại Pháp: Nguyễn-Văn-Huy).

Khi nền Đệ Nhất Cộng-Hòa sụp đổ, năm 1964 “Nha-Công-Tác-Xã-Hội-Miền-Thượng” đổi thành “Nha-Ðặc-Trách-Thượng-Vụ” trực thuộc Bộ-Quốc-Phòng và sau đó được nâng cấp lên thành “Phủ-Ðặc-Ủy-Thượng-Vụ”.

Sang thời Đệ Nhị Cộng-Hòa: năm 1969, “Bộ-Phát-Triển-Sắc-Tộc” được thành lập ngay trong chính-phủ Việt-Nam-Cộng-Hòa do một người Thượng lãnh đạo, có chức-năng tương-đương các Bộ khác. Tổng-Trưởng Bộ-Sắc-Tộc lúc bấy giờ lần lượt là các ông Paul Nưr, Ya Ba, cuối cùng là ông Nay Luett (Nay Louette), một lãnh-tụ người GiaRai.

Cho đến ngày nay, dân-tộc Kinh chiếm khoảng hai phần ba dân-số người miền Thượng.

Chúng tôi vừa sơ-lược vắn-tắt về nguồn gốc và đời sống của người thiể-số Việt-Nam.

Hơn mười năm qua, trên những chặng đường chia xẻ tình-thương đến các đồng-bào khó nghèo vùng Thượng-Du; chúng tôi đã có cơ may gặp trực-tiếp nhiều sắc tộc như: Xinh-Mun, Mường, La-Ha, Chăm, Dao, Hre, Ba-Na, Lô-Lô, Tày, Thái, Cơ-Tu, Nùng… Họ sống hiền hòa như cây, như cỏ. Bình-dị, hoang-sơ trong những căn nhà sàn trên triền đồi hoặc ngay ở vách núi cheo-leo. Ấn-tượng sâu đậm nhất trong tôi là những bộ trang-phục rất đẹp mắt và đầy sức quyến rũ của các Sơn-Nữ núi rừng cao-nguyên huyền-bí– Đó chính là: “Thổ-Cẩm Việt-Nam”.

Mỗi một vùng đất, mỗi một tộc người có những nét rất riêng mà phải thật tinh-ý chúng ta mới nhận biết được qua chất liệu mềm mại, màu sắc và hoa-văn đầy ý-nghĩa trên mặt vải. Đặc biệt càng ở vùng núi cao, nơi quanh năm mây mù bao phủ, hoa-văn của họ càng thiên về màu nóng với nhiều đỏ, vàng. Ở cổ và nẹp áo phụ-nữ Mông-Hoa có xử-dụng chỉ màu đỏ, xanh lá cây thêu hình con ốc (lầu kưx), loại ốc này sống trên cạn, còn gọi là ốc rồng (Kưx rong), hoặc bố-cục theo lối băng ngang họa tiết hình con chim (lầu-mờ-nông) cách điệu, nổi rõ hai bên nẹp trên nền vải trắng.

Hoa-văn của mỗi dân-tộc đều mang những nét đặc-trưng riêng về bố-cục, màu sắc, lối trang-trí, tạo nên sự phong-phú đa-dạng, nhưng chúng lại thể-hiện một sự thống-nhất cao về tính hình-học và cách điệu hóa. Loại hoa-văn này phản-ánh một thế-giới-quan về vũ-trụ và thiên-nhiên như mặt trời, hoa lá, sóng nước, núi non, cây thông hoặc các loài động vật... Đôi khi mang hình chim thú, hoa lá được dệt trong từng ô vuông nhỏ, cân-đối, rất tỉ-mỉ; tạo nên cảm-giác hoang-sơ sắc-xảo, biểu-tượng của từng dân-tộc Thượng; hoa-văn nổi lên trên bề mặt vải như thêu, đem lại sự tương-phản nhưng rất hòa-hợp qua từng sắc độ của màu.

Nghề dệt Thổ-Cẩm có từ rất lâu đời ở nước ta, trước đây sản-phẩm này được tạo ra chủ-yếu nhằm phục-vụ nhu-cầu trong gia-đình các bộ-tộc, làm của hồi-môn khi con gái về nhà chồng và một phần để trao đổi hàng-hoá lấy lương-thực.Ngày nay, Thổ-Cẩm là những món quà lưu-niệm rất được ưa chuộng đối với khách du-lịch khi đi đến các vùng cao-nguyên Việt-Nam.

Nguyên-liệu chính được xử-dụng là bông vải; thu hoạch theo mùa được đánh tơi xốp rồi kéo thành sợi.Một số dân-tộc còn khai-thác chất liệu từ vỏ cây kéo thành sợi. Kỹ-thuật lấy sợi và mắc thành cuộn theo các quy trình sau:

Cho bông qua giá tách hạt - Cung bật bông - Xa quấn tơ - Xa bắt chỉ - Xa đánh ống - Giá mắc sợi - Khung xỏ go.

Quá trình nhuộm vải như sau:

Màu nhuộm dành cho Thổ-Cẩm có thể được tạo ra từ nhiều chất liệu thiên-nhiên và phương-pháp khác nhau:

- Màu đen: ngâm lá chùm bầu với bùn non từ ba đến bảy ngày đêm hoặc ngâm lá chàm.

- Màu nâu hoặc màu đỏ sẫm lấy từ các loại vỏ cây.

- Màu xanh: nung vỏ ốc suối thật khô, ngâm thành vôi rồi trộn với nước lá krum; hoặc ngâm lá chàm.

- Màu đỏ: giã vỏ cây krung già ra, nấu lên.

- Màu nâu đỏ: ngâm giấm vỏ cây sủi, đun sôi khoảng ba giờ và làm mát qua đêm, pha thêm phèn rồi ngâm sợi vải ở nhiệt độ 80 độ C.

- Màu vàng: nhuộm từ củ nghệ.

Sau khi nhuộm, sợi được phơi khô. Người thợ nhuộm xử-dụng một chiếc bàn chải (kruamrai), chải dọc theo cuộn sợi để gỡ sạch các vụn màu và vỏ cây.

Hàng Thổ-Cẩm cũng đã được nhà thiết-kế nổi tiếng Minh-Hạnh (Saigon) đem sang Pháp để tham-dự Festival ngành dệt may từ ngày 12 đến 16 tháng 9, 2012 vừa qua tại Clermont Ferrand. Thổ-Cẩm Việt-Nam đã được xếp vào mặt hàng mang tầm-vóc quốc-tế vì để lại rất nhiều ấn-tượng đẹp và được mọi người vô cùng yêu thích & hâm-mộ.

Trong những chương-trình sinh-hoạt âm-nhạc thiện-nguyện của gia-đình “Chân-Quê” hàng tháng tại các Trung-Tâm-Điều-Dưỡng (Nursing-Home) vùng quận Cam, California – Hoa-Kỳ không ngừng nghỉ suốt 12 năm qua. Diamond Bích-Ngọc luôn sưu-tầm và tự thiết-kế các trang-phục lạ, thật đẹp mắt – thay đổi theo từng mùa cho tất-cả các ca-nhạc-sĩ than-gia thiện-nguyện. Như tháng 10 (chủ-đề mừng lễ Halloween; thay vì là những bộ custumes ma-quái); chúng tôi đã dầy công đi về miền Thượng-Du Việt-Nam; sưu-tầm hàng Thổ-Cẩm đem đến trình-diễn cho khán-giả; đặc-biệt là những bệnh-nhân, y-tá, bác-sĩ người Mỹ trong Nursing-Home; giới-thiệu nét đặc thù, về nền văn-hóa độc đáo Việt-Nam.

Các thiện-nguyện-viên cũng luôn chuẩn bị chu-đáo cho chương-trình, như anh Quốc-Hùng (Black Caps) phải soạn hòa-âm, gửi MP3 qua Email cho từng thành-viên nghe trước, nhạc-sĩ kỳ-cựu Châu-Hiệp phối-khí bằng thanh-âm guitarist điêu-luyện, rất tuyệt-vời! Các ca-nhạc-sĩ: Trung-Chánh, Dr. David Bui, M.D, Thanh-Hằng, Thùy-Liêm, Lan-Anh tập dợt kỹ càng sao cho đúng nhịp, đúng âm-vực của từng nốt, từng cung bậc, giai-điệu nhạc trước ngày biểu-diễn. Riêng ca-nhạc-sĩ Thái-Nguyên và Diamond Bích-Ngọc, cuối tuần phải lái xe chở đầy nhạc-cụ đi và về mỗi lượt 5 tiếng đồng-hồ từ nhà đến các Nursing-Home không quản ngại đường xa đầy bất trắc (vì “Tejon Pass” hiểm-trở - mùa Đông tuyết rơi và mùa Hè thì dễ cháy rừng; đôi khi cảnh-sát chặn tất-cả xe cộ không cho vượt đèo để tránh hiểm-nguy!) Xem thêm chi-tiết qua “link”: http://www.vietbao.com/D_1-2_2-44_4-180440_5-15_6-1_17-1_14-2_15-2_10-5138_12-1/

Những cố-gắng về nội-dung lẫn hình-thức này không ngoài mục đích phục-vụ cho khán-giả - dù họ chỉ là những bệnh-nhân yếu đuối; không đủ sức trao tặng lại bằng những tràng pháo tay nồng nàn như trong các buổi đại-nhạc-hội ngoài đời. Nhưng qua cách tỏ bày sự cảm-kích, trân-quý bằng ánh mắt rạng ngời vui sướng hồn-nhiên, nét cười hay những giọt nước mắt cảm-động yêu-thương, những bắt tay xiết chặt không muốn xa rời của khán-giả đối với các thiện-nguyện-viên.Tất-cả biểu-hiện này phải chăng đã quá đủ bù đắp cho sự hy-sinh về thời-gian, công sức & vật-chất của gia-đình “Chân-Quê”;làm hành-trang tiếp tục cho chúng tôi trên bước đường phụng-sự tha-nhân.

Để đúc kết bài viết này, xin phép mượn những câu thơ rất “Thiền”, rất dễ-thương của thi-sĩ Du-Tử-Lê để tặng cho chính mình và tất-cả các thiện-nguyện-viên trên toàn thế-giới:

“Thế giới vì em sẽ dịu hiền
Biển đời phút chốc bỗng bình-yên
Cánh chim tịch tịch miền vô niệm
Vô chấp em ngồi như Quan-Âm”


(Trích từ thi-phẩm: Vì Em Tôi Đã Làm Sa-di)

Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên soạn - www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ông Bill Burns, Trùm CIA, hôm 19/04/24, cảnh báo « Ukraine có thể thua cuộc chiến sanh tử với Poutine từ đây tới cuối năm ». Lời tuyên bố đưa ra trước hôm Hạ viện Huê kỳ biểu quyết có nên tháo khoán 61 tỷ USD để giúp Ukraine hay không? Nay thì Ukraine có 61 tỷ, và còn thêm phần viện trợ của Otan nữa, để tăng cường khả năng quân sự và cả kinh tế để đối đầu với Poutine. Vậy tới cuối năm, chiến tranh Ukraine sẽ kết thúc và thắng lợi sẽ ngả về phía Ukraine?
Thời gian còn làm Trung Sĩ Thông Dịch Viên trong Bộ Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ ở căn cứ Long Bình, Việt Nam vào năm 1969, trước khi tôi được chuyển sang phục vụ trong ngành phi hành của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, thì tôi có dịp tháp tùng phái đoàn Dân Sự Vụ (Civic Action) Lữ Đoàn 18 Quân Cảnh Hoa Kỳ (U.S. 18th Military Police Brigade) đi công tác ở Nhật Bản. Cũng trong chuyến công du này tôi đã phát hiện ra rằng, Nhật Bản là một quốc gia thực thi được chính sách phát triển kinh tế làm thịnh vượng cho toàn thể xã hội, và xóa bỏ được nhiều điều bất công...
Trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, cần phải phân loại, xác định rõ ràng các loại “địch” để tìm cách đối phó hoặc vận động gây cảm tình làm đồng minh, tùy loại địch. Mọi người thường nói, “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” là vậy.
Chỉ trong vòng 465 ngày (26/04/2024-17/01/2023) đảng CSVN đã trải qua 3 cuộc khủng hoảng lãnh đạo thượng tầng chưa từng có trong lịch sử. Người duy nhất vẫn “vững như bàn thạch” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, 80 tuổi, nhưng ai sẽ thay ông Trọng để lãnh đạo đảng, sau Đại hội toàn quốc tháng 01 năm 2026 là câu hỏi chưa có câu trả lời...
Mới đây ở Việt Nam lại bùng nổ ra một vài vụ tham nhũng khá nghiêm trọng như vụ Vạn Thịnh Phát và Việt Á. Vào đầu năm nay, Transparency International báo cáo kết quả nghiên cứu tình trạng tham nhũng tại 180 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nhân dịp này chúng ta duyệt lại tình trạng tham nhũng ở Việt Nam.
Câu nói của cố thủ tướng Việt Cộng là Võ Văn Kiệt rằng ngày 30-4 có một triệu người vui và một triệu người buồn...
“Ý thức xã hội mới Việt Nam “là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, những tình cảm, tâm trạng, truyền thống tốt đẹp, v.v. của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ xã hội mới”. Nói như thế là cuồng tín, vọng ngoại và phản bội ước vọng đi lên của dân tộc...
Nhiều sự việc thay đổi kể từ thập niên 1970 khi Richard Nixon và Mao Trạch Đông nghĩ ra công thức “một Trung Quốc” cho sự dị biệt của họ đối với quy chế Đài Loan. Nhưng nếu kết hợp với các biện pháp khác để tăng cường việc răn đe chống lại bất kỳ hành động xâm lược bất ngờ nào, chính sách này trong 50 năm qua vẫn có thể giúp cho việc gìn giữ hòa bình. Liệu Trung Quốc có thể cố tấn công Đài Loan vào năm 2027 không? Philip Davidson, Tư lệnh mãn nhiệm của Bộ Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ, nghĩ như vậy hồi năm 2021 và gần đây ông đã tái khẳng định việc đánh giá của mình. Nhưng liệu Hoa Kỳ và Trung Quốc có định sẵn cho cuộc chiến trên hòn đảo này không, đó là một vấn đề khác. Trong khi nguy hiểm là có thật, một kết quả như vậy không phải là không thể tránh khỏi.
Khi nhận xét về chính trị tại Việt Nam, không những các quan sát viên quốc tế mà ngay cả nhân dân đều băn khoăn trước câu hỏi: dưới chế độ CSVN, cả quân đội lẫn công an đều là những công cụ bảo vệ cho đảng và chế độ, nhưng tại sao thế lực của công an và đại tướng công an Tô Lâm lại hoàn toàn lấn át quân đội như thế?
Có nhiều chỉ dấu Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã “lọt vào mắt xanh” Trung Quốc để giữ chức Tổng Bí thư đảng CSVN thay ông Nguyễn Phú Trọng nghỉ hưu. Những tín hiệu khích lệ đã vây quanh ông Huệ, 66 tuổi, sau khi ông hoàn tất chuyến thăm Trung Quốc từ 7 đến 12/04/2024.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.