Hôm nay,  

Hạt Điều Máu

22/08/201200:00:00(Xem: 16292)
Cuốn phim trinh thám chính trị nổi tiếng Blood Diamond (Kim Cương Máu) với tài tử nổi danh Leonardo DiCaprio thủ vai chính, được thực hiện vào năm 2006 với ngân sách cả trăm triệu mỹ kim, được nêu danh 5 lần trong Giải Oscar và đoạt huy chương vàng trong một số giải điện ảnh nổi tiếng khác, đã lột tả ý nghiã ghê rợn của chữ “máu” đi liền với một số những viên đá quý mà quý vị phụ nữ nâng niu trang điểm.

Vào thập niên 1990, khi các cuộc nội chiến đẫm máu lan tràn tại các quốc gia Phi Châu như Angola, Sierra Leone, Cote d'Ivoire, Liberia, Congo, các lực lượng nổi loạn đã khai thác các mỏ kim cương để lấy tiền mua vũ khí và tài trợ cho các cuộc nổi dậy lật đổ chính quyền tại các quốc gia đó.

Trong tiến trình sản xuất kim cương, họ bắt cóc nông dân và dân chúng, kể cả trẻ em, và lùa họ vào các mỏ kim cương. Ở đó họ bị đối xử tàn nhẫn và làm việc như những kẻ nô lệ, bị áp dụng những biện pháp thô bạo nhất để trừng phạt khi làm việc chậm chạp hay giấu trộm kim cương như chặt tay thậm chí chặt đầu hoặc bắn bỏ. Cuốn phim Kim Cương Máu đã trình bày những hình ảnh hãi hùng, ghê rợn tại những mỏ khai thác kim cương kể trên. Vì có nguồn gốc, mục tiêu và tiến trình khai thác dính đầy máu đó mà những hạt kim cương này đã bị thế giới đặt tên là những “kim cương máu”, khác với những kim cương được sản xuất bởi những công ty đá quý bình thường.

Vì mối quan tâm ngày càng gia tăng và gần đến mức tẩy chay của thế giới về “kim cương máu” nên các quốc gia sản xuất “kim cương lương thiện” đã họp lại tại thành phố Kimberley ở nước Nam Phi vào năm 2000 để tìm giải pháp ngăn chặn việc phổ biến kim cương máu. Vào Tháng 12 năm 2000, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết quan trọng. Theo đó, kim cương khi bán ra phải có chứng minh nguồn gốc để không bị nhầm lẫn với kim cương máu mà cả thế giới khinh tởm và tẩy chay.

Vào tháng 9 năm 2011, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) công bố một bản phúc trình chi tiết về tình trạng cưỡng bức lao động trong các trại cải huấn ở Việt Nam -- nơi giam giữ không chỉ những người nghiện ngập, những người bị nhiễm HIV, những tù thường phạm, mà còn cả những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm.

Cũng theo báo cáo của HRW thì dù mang danh là “cải huấn” và “cai nghiện” nhưng thực tế đây chỉ là những trại tù, trong đó tù nhân bị cưỡng bức làm việc tới kiệt lực, bị hành hạ, tra tấn tàn nhẫn, và một trong những việc đáng sợ mà các tù nhân phải làm là bóc hạt điều. Các tù nhân bị bắt lột vỏ hạt điều từ 6 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Mỗi tù nhân bị buộc phải làm từ 20 ký tới 40 ký hạt điều mỗi ngày để nạp cho ban quản lý trại giam -- so với khả năng sản suất bình thường của một công nhân bên ngoài chỉ khoảng 10 ký mỗi ngày. Ai không đạt chỉ tiêu thì bị đánh đập. Có người khi phản đối đã bị xiềng chân và biệt giam. Báo chí ở Việt Nam từng loan tin các vụ trốn trại tập thể ở nhiều nơi từ Hải Phòng, Sài Gòn, Bình Dương, Cần Thơ và một số nơi khác. Một trong những lý do chính là không chịu nổi sự hà khắc của ban giám thị.

Vỏ và mủ hạt điều chứa chất acid Cardol độc hại và càng thêm đậm đặc sau khi sấy. Mủ làm lở loét tay chân và đặc biệt rất nguy hiểm cho mắt. Các tù nhân không được cung cấp đầy đủ găng tay, một phần vì tốn kém và một phần vì đeo găng tay sẽ làm giảm năng suất. Có người đã bị mù sau một thời gian làm hạt điều. Những nhà máy sấy hạt điều thường nằm cạnh các trại giam. Hàng ngày các nhà máy này thổi ra những cột khói vàng khè. Khi thuận gió khói này bay vào buồng giam khiến tù nhân bị cay mắt và khó thở khiến họ phải dùng khăn mặt để che.


Những bàn tay rỉ máu và ghẻ lở, bên dưới những dòng mồ hôi và nước mắt, của hơn 300.000 tù nhân tại 123 trại tù và “trung tâm cai nghiện” ở Việt Nam hàng ngày vẫn đang tiếp tục sản xuất ra những hạt điều thơm tho và béo ngậy được xuất cảng đi khắp thế giới.

Gần đây, nhân cuộc điều tra về tình trạng sức khỏa của bà Trần Thị Thúy, -- một tù nhân lương tâm bị nhà nước Việt Nam kết án 8 năm tù vì là đã đứng ra giúp nhiều dân oan cùng cảnh ngộ khiếu kiện đòi lại nhà đất -- thảm trạng tù nhân bị cưỡng bức bóc hạt điều lại một lần nữa bị phanh phui trước công luận.

Cũng theo báo cáo của các tổ chức nhân quyền thì các ban quản lý trại giam ký hợp đồng với các công ty xuất cảng hạt điều và bắt tù nhân ngày đêm sản xuất cho đủ chỉ tiêu. Kỹ nghệ hạt điều đem lại cho nhà cầm quyền Việt Nam khoảng 1,5 tỉ Mỹ kim mỗi năm.

Giám đốc đặc trách Y tế và Nhân quyền của Human Rights Watch, ông Joe Amon tuyên bố: “Hàng chục ngàn người, nam, nữ và trẻ em bị cầm giữ trái với ý muốn của họ trong các trung tâm cưỡng bức lao động. Đó không phải là điều trị cai nghiện, cần đóng cửa những trung tâm này và trả tự do cho những người đó”.

Tạp chí Time cũng mô tả “hạt điều máu” là một trong những hình thức cưỡng ép lao động, khai thác các nạn nhân và bệnh nhân trong các trại cải huấn ma túy của nhà cầm quyền, bên cạnh các việc khác như may quần áo, làm gạch …

Phúc trình của HRW viết: “Ở Congo bên Phi Châu có kim cương máu. Ở Miến Ðiện có vòng cẩm thạch máu. Việt Nam có hạt điều máu”.

Vào ngày 13/6/2012 vừa qua, tổ chức Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ (CAMSA) mở chiến dịch báo động công luận và kêu gọi tẩy chay “hạt điều máu” và đã điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ.

Theo CAMSA thì chiến dịch tẩy chay “hạt điều máu” từ Việt Nam gồm có các mục tiêu sau đây:

(1) Tạo ý thức trong giới tiêu thụ trên thế giới về chính sách cưỡng bách lao động của nhà cầm quyền Việt Nam;

(2) Kêu gọi giới tiêu thụ không ăn hạt điều xuất phát từ Việt Nam, và thông tin cho nhau biết những cửa tiệm nào bán hạt điều từ Việt Nam để tránh;

(3) Áp lực các công ty quốc tế ngưng nhập cảng, phân phối, hay bán hạt điều xuất phát từ Việt Nam; và

(4) Vận động các chính quyền trong thế giới tự do và các cơ quan Liên Hiệp Quốc áp lực nhà nước Việt Nam bãi bỏ chính sách cưỡng bách lao động và chấp nhận cho các cơ quan quốc tế kiểm tra các trại cải huấn và trại tù.Mục đích tối hậu của chiến dịch là giải thoát cho hàng trăm ngàn nạn nhân và bệnh nhân khỏi tình trạng nô lệ trong các trại cải huấn và các trại tù.

CAMSA kêu gọi cộng đồng người Việt tại hải ngoại đẩy mạnh chiến dịch này và vận động công chúng quốc tế nhập cuộc, và cũng kêu gọi các tổ chức cộng đồng và cơ quan truyền thông ghi danh yểm trợ chiến dịch này.

Là người Việt Nam, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ khi mỗi ngày hàng mấy trăm ngàn những dòng nước mắt, mồ hôi, máu và mủ của đồng bào chúng ta tiếp tục đổ xuống, hòa lẫn vào những hộp hạt điều mà chúng ta đang thưởng thức.

Là người tiêu thụ, điều tối thiểu mà mỗi chúng ta có thể làm để góp phần giảm thiểu nỗi khổ đau của đồng bào, đặc biệt là những tù nhân lương tâm tại Việt Nam, (cũng như những nạn nhân tương tự tại Trung Quốc) là ngưng mua hạt điều từ Việt Nam và Trung Quốc. Đây là bước đầu tiên cần làm trong các cộng đồng người Việt khắp nơi, để từ đó chúng ta có thể vận động một cách hiệu quả sự tiếp tay của cả thế giới về thảm trạng này./.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.