Hôm nay,  

Yangon, Những Lớp Học Não Nề Nhưng Đầy Hy Vọng

11/08/201200:00:00(Xem: 23992)
Mo đang học năm cuối ngành sinh học ở Đại học Yangon. Lúc cuộc nổi dậy 8888 diễn ra do Nhóm Sinh Viên Thế Hệ 88 phát động, và sau đó Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ ra đời do bà Aung San Suu Kyi làm lãnh tụ, thì cô chưa sinh.

Giờ đây, 20 tuổi năm 2012, Mo là một đảng viên đắc lực của Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ.

Người Miến chiến đấu bền bĩ. Không có một sự đứt đoạn nào trong ý chí kiên cường của họ. Những cuộc nổi dậy đổ máu để truyền thông thế giới biết là bề nổi. Trong âm thầm, nhiều người như Mo chuẩn bị và tiếp bước, lớp sóng trước ngã xuống, lớp sau dồn tới, cũng trong âm thầm lặng lẽ, bằng niềm tin mạnh mẽ nhưng thật hồn nhiên.

Mo đưa tôi đến tổng hành dinh của bà Daw Suu ở Yangon. Không biết có nơi nào trên đời, một đảng phái làm rung chuyển tận gốc rễ chế độ độc tài, tiếng tăm vang dội, lại có một tổng hành dinh hết sức khiêm tốn và tuềng toàng nơi thành phố phồn hoa nhất Miến Điện.

Đó là một căn nhà mặt tiền hai tầng, tầng trên thụt sâu vào, cửa nằm sát lề đường. Bên trong là một căn phòng lớn bừa bộn bàn ghế làm đủ nhiệm vụ, vừa là nơi cất giữ tài liệu xếp thành chồng để sát vách, vừa là chỗ nhóm truyền thông cắt dán khẩu hiệu hoặc thảo luận. Bên trái có một cái quầy bán băng video và tài liệu về đảng, bên phải là hàng kệ đen cũ dán nhiều chân dung của Daw Suu. Giữa phòng lớn có khu dùng để họp và hội nghị, nơi bà Daw Suu mới tổ chức họp báo về chuyến đi Âu châu vừa rồi, còn cả tấm phông với hàng chữ Europe Tour Press Conference.
mien_dien_lop_hoc
Một lớp học nhỏ, học sinh chen chúc.
Căn phòng có không khí một cuộc chuẩn bị xuống đường.

Mo giới thiệu với vài đảng viên lớn tuổi. Họ nói tôi cứ thu thập và chụp hình thoải mái. Lúc này Daw Suu đang dự phiên họp quốc hội đầu tiên ở thủ đô Naypyidaw.

Bên ngoài căn phòng chính có một hành lang dốc và hẹp vừa một người đi dẫn lên tầng trên, nơi Mo cùng 36 đảng viên trong độ tuổi hai mươi đang chờ tôi lên nhập bọn. Mỗi thứ Năm, Mo tới đây dạy Anh ngữ. Lớp học lỏng chỏng đủ các loại bàn kích cỡ khác nhau, xung quanh một vài đảng viên khác đang bận rộn làm việc. Các học viên gồm nhiều sắc dân của Miến, người Karen, người Arakan, người Mon, người Shan. Chúng tôi vừa khởi sự thì trời đổ mưa sầm sập trên mái tôn, nước tạt vào các bàn ngoài rìa nên phải tạm nghỉ. Miền Hạ Miến vào tháng Bảy là đỉnh cao của mùa mưa. Ở Yangon mưa từng cơn lớn rồi tạnh, nhưng các tỉnh phía nam như Mawlamyine thì mưa thúi đất suốt cả tháng.

Vài hôm sau tôi được gặp Min, một đảng viên cao cấp đặc trách toàn bộ vấn đề giáo dục. Sau khi được trả tự do, Daw Suu vận động thành lập 36 trường tư. Đúng hơn nên gọi là trường thí vì học sinh không phải đóng tiền, dành cho các gia đình nghèo không đủ sức cho con theo học trường nhà nước (đủ thứ phí). Min, theo lời Mo, là người không có thời giờ nên gặp anh cũng là một đặc cách. Chúng tôi bàn sẽ thuê xe đi thăm bốn trong 36 trường của Daw Suu nằm ở ngoại vi Yangon.

Sáng hôm sau chúng tôi hẹn gặp nhau ở chợ Bogyoke. Min chừng ba mươi, dáng tầm thước, đôi mắt rất sáng, không ăn trầu và có nụ cười rạng rỡ. Hôm nay anh diện chiếc sơ mi trắng phau, quấn longyi mới keng như đi ăn tiệc. Mo cũng rỡ ràng trong chiếc váy màu tím than. Cô trắng phau như người Tàu nhưng thật ra là người Arakan, sinh trưởng ở một cù lao nhỏ nằm về phía tây bang Arakhine gần phía Ấn Độ. Phương tiện đi lại rất khó khăn vì cái cù lao xa bờ, nhưng nhờ vậy quê cô là một làng cá yên bình. Cô hứa khi bang Arakhine yên bình và xin được giấy phép của cảnh sát, cô sẽ dẫn tôi về giới thiệu với cha mẹ.

Min là người hoạt bát và điềm tĩnh. Anh nói muốn làm chính trị trong lĩnh vực giáo dục vì Phật dạy con người phải tu trí, cho nên anh đồng ý phụ trách tất cả các trường của Daw Suu. Không biết có chính trị gia nào trên đời lấy lời Phật làm triết lý hành động không. Ở anh tiềm tàng một nội tâm mạnh mẽ, toát ra một sức hút tín cẩn đối với người xung quanh.

Khái niệm trường sẽ không đúng khi đến các ngôi trường này, vì mỗi trường chỉ gồm một lớp học. Cả bốn cái trường đều nằm trên những khu vực sinh lầy và hôi hám xa trung tâm Yangon vài chục cây số.

Ngôi trường đầu tiên nằm bên đường đất nhỏ, dựng giữa những cái ao rau muống và các bãi sình. Đây là làng quê của Min, nơi anh gia nhập Liên Minh của Daw Suu từ năm 1997, tất nhiên cũng vào tù ra khám. Trước một nền giáo dục hoàn toàn phá sản và nghe lời Daw Suu, anh mướn nhà rồi mời người tới dạy. Cảnh sát bắt lên, yêu cầu phải dẹp trường vì không có phép, còn nếu cứ giữ thì mỗi ngày hoạt động phải chịu đóng phạt 10.000 kyat (trên 10 đô Mỹ). Anh bảo tiền đâu mà đóng, nếu mấy ông muốn bắt thì tôi đây nè, cứ bắt đi chứ không dẹp trường.
mien_dien_lop_hoc__2_
Khái niệm trường sẽ không đúng với "ngôi trường" một lớp này.
Min cười tươi, bảo: Thấy tôi lì chứ không phải thách thức, đến nay họ cũng lơ đi dù vẫn chưa có phép.

Đó là một lớp học nhỏ, thầy giáo đang dạy môn Vật lý, học sinh ngồi ép vào nhau mỗi bàn năm người. Phía sau lớp học có nhà vệ sinh không thể tả. Phía ngoài và trước lớp dựng bảng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ có hình Daw Suu phóng lớn. Bên cạnh phòng học còn một miếng đất trống khoảng ba trăm mét vuông. Min bảo anh ao ước đủ tiền mua miếng đất này để xây thêm phòng, thời giá chừng sáu ngàn đô Mỹ.

Ngôi trường thứ hai đỡ hơn nhờ nằm kế một đường đất nhỏ vừa đủ một chiếc xe hơi. Các đảng viên ở khu này mặc áo đồng phục màu cam, đeo phù hiệu đảng hình con công vươn tới ngôi sao sáng. Họ đứng tràn cả hai bên đường, dân chúng trong khu kéo đến đứng chật cả lối đi. Học sinh học trên nền đất ướt lẹp nhẹp. Bà hiệu trưởng nói miếng đất này do một ông hàng xóm tặng. Bà nhấn mạnh ông hàng xóm tốt bụng là đạo Hồi. Tôi hiểu ý tứ của bà khi giới thiệu ông hàng xóm râu xồm đứng xớ rớ bên cạnh. Lúc này ở bang Rakhine đang giới nghiêm vì cuộc xung đột đẫm máu diễn ra gần hai tháng qua giữa người Miến Phật giáo và người Miến Hồi giáo. Chính tình hình này nên dù tôi đã mua vé qua Rakhine nhưng hôm sau phòng vé trả lại vì vấn đề an ninh.


Chúng tôi đến ngôi trường thứ ba đã quá trưa nhưng Min nói chiều ăn cơm luôn vì còn một cái trường ở xa nữa. Ngôi trường này cũng chỉ có một phòng học, nhưng chung vách tre có một phòng khám, gồm một bức màn và một cái giường gỗ kê trên mấy cục gạch. Mỗi tuần có một bác sĩ tình nguyện từ Yangon về khám cho dân làng. Học sinh đa số là nữ. Min bảo đó là chủ trương của đảng, phải nâng cấp phái nữ thì đất nước mới phát triển bền vững.

Chúng tôi ngồi nói chuyện bên phòng khám, các đảng viên trong phân bộ này kéo về tụ tập, sau đó qua phòng học có trên bốn mươi học sinh năm cuối bậc trung học đang ngồi chờ. Ngoài giáo dục, Min còn chịu trách nhiệm vận động cho ý thức dân chủ. Daw Suu quả đã chọn đúng người.

Chúng tôi đến trường thứ tư ở thị trấn Kalapa. Đây là khu vực mà ngay cả Min cũng đi lạc. Một con đường tróc lở chạy quanh quẩn giữa các căn nhà làm bằng đủ thứ vật liệu, từ gỗ cho đến tôn, bạt, nhựa, lá kè. Rác rưởi và phân thú trộn với sình lầy rải hai bên đường. Các căn nhà được kê cao hơn mặt sình một chút, hàng quán và thanh niên ăn nhậu ở sát các bãi rác. Con nít bận đồ rách rưới, đi chân đất chạy chơi vô tư trên con hẻm độc nhất làm lối đi chính, rồi từ con hẻm này tẻ vào các con hẻm nhỏ rộng nửa thước, len lỏi qua những nhà cửa xập xệ chông chênh trống trước hở sau.

Tôi vẫn ở khu ổ chuột gần trung tâm Yangon mấy năm nay, nhưng so với khu này thì khu ổ chuột kia phải là chuồng chuột bạch, quá sang trọng. Khu này mới thực sự là hang chuột cống, những người dân không có chỗ cắm dùi kéo cả về đây, giăng lều dựng bạt, chui rúc theo cả nghĩa đen cả nghĩa bóng. Vì thế Min phải trở tới lộn lui vài lần mới tìm ra đúng con hẻm nhỏ chen giữa hai dãy nhà che bằng phên tre thưa thớt. Đi sâu vào thì gặp một căn nhà sàn cuối cùng, nơi làm chỗ học, một điểm giáo dục trong số 36 điểm mà Daw Suu thành lập.

Thầy giáo đứng lớp là một giáo viên đã về hưu. Ông đang dạy múa cho 19 bé gái lam lũ trên dưới mười tuổi. Thầy hiệu trường là một cụ ông có con trai là đảng viên Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ, mới đắc cử dân biểu trong đợt bầu cử tháng Tư vừa rồi. Ông có 11 người con, cô con gái áp út 18 tuổi, đang học năm thứ nhất ngành tâm lý, nhanh nhẹn và hoạt bát. Cô dọn một dĩa sà lách Miến với hai cái nĩa để mọi người ăn chung. Thầy hiệu trưởng bảo đang tổ chức thi vẽ chân dung Tướng Aung San để chúng biết Bogyoke Aung San là ai, vì sắp đến ngày 19 tháng 7, ngày Quốc Gia Tử Sĩ tưởng niệm Tướng Aung San và tám bộ trưởng của ông bị ám sát năm 1947.

Sau suốt ngày dài, chúng tôi từ giã bốn ngôi trường trong tâm trạng buồn bã nhưng tràn đầy hy vọng và phấn khích. Nền giáo dục Miến Điện, như ở mọi thể chế không tự do, bị thui chột và đồng dạng. Bảy mươi phần trăm sinh viên đại học đều học hàm thụ, mỗi năm chỉ tập trung ở trường tám ngày. Trên năm mươi phần trăm trẻ em thất học. Những đứa trẻ được đến trường công thì cha mẹ phải đóng phí học thêm để thầy giáo kèm thi. Nhà chùa, dưới chế độ quân phiệt, đóng vai trò hướng dẫn cuộc sống đời và đạo.

Nhưng dù thực trạng não nề nhưng một con đường mới đang thắp sáng trước mắt. Những ngôi trường của bà Aung San Suu Kyi là một định hướng chiến lược, dù gần ba trăm giáo viêntình nguyện đang dạy trên 20.000 học sinh đều chưa qua trường lớp sư phạm, phần lớn mới học xong trung học. Một khởi sự đầy nhọc nhằn trong bầu khí dân chủ đang chuyển biến ngoạn mục trên quê hương đã quá nhiều lầm than.

Bắt đầu trang bị cho thế hệ mới những điều không được nói trên nửa thế kỷ qua từ khi nhà độc tài Ne Win chiếm quyền năm 1962.

Bắt đầu công khai cấy ý thức dân chủ, thế nào là quyền căn bản của con người. Các lớp học trong chùa suốt năm thập niên qua tiếp tục dạy con người trở thành kẻ hiền lương trong mọi hoàn cảnh. Họ đã đạt được mục tiêu đó. Những chuyển động tài bồi dân trí hiện nay đang hướng về những kiến thức thời đại. Dạy làm người hiền lương là điều khó nhất nhưng họ làm được, trang bị những tri thức thời đại là điều tất nhiên sẽ thành.

Một dân tộc nếu đi hoài trong đêm tối, nhìn quanh chỉ thấy bóng đêm, sẽ không thể đi lâu. Dân tộc này vẫn còn trong đêm tối, nhưng lịch sử và niềm tin thánh thiện của họ là điểm sáng lung linh từ xa, dìu dắt họ tiến về. Vấp ngã, dậy, đứng lên, đi. Như người hành hương leo núi để tiến lên một thánh địa, họ sẽ không đi, và sẽ không đi nổi, nếu biết rằng sau những bậc dốc cao không có gì.

Người Miến Điện, khi bị cai trị bằng súng đạn, vẫn có một sức mạnh bền bĩ nhờ tín ngưỡng. Họ dùi mài niềm tin trong im lặng, thâm trầm, y cứ vào lời dạy của giáo chủ để làm phương châm sống. Sự dùi mài niềm tin ấy trở thành máu thịt, rèn luyện họ thành những trí tuệ biết tập trung vào công việc. Những đền đài và tượng đài vĩ đại nhất thế giới của họ không làm bằng sự tự mãn, bằng xương máu, hoặc để được ghi vào sách Guiness, mà được tỉ mỉ dựng xây từ thế hệ này qua thế kỷ khác, bằng công và của chắt chiu từng ngày.

Khu ổ chuột Kalapa là một vùng đất tăm tối bị lãng quên, những nhiều vùng đất khác trên Miến Điện, và lớp học là một đốm lửa đan nhen. Những người như Min và Mo, dù không nhiều, đang thắp sáng hơn những ngọn lửa để xua đuổi bóng đêm. Họ đang làm lịch sử. Lịch sử, sau cùng, có bao giờ được làm bởi đám đông đâu.

Ý kiến bạn đọc
13/08/201218:01:31
Khách
Xin cám ông Từ Khanh. Xin ông cho biết đây là bài dịch hay do ông viết.
Nếu dịch xin ông vui lòng cho chi tiết để tìm đọc thêm.
Xin nói rõ, dịch hay viết không quan tâm, cám ơn ông đã dành thời giờ cho bài này.
Kính, Hoàng Trần.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.